Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Cập nhật ngày: 14/05/2013 - 06:37
HTML clipboard

(BTNO)- Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, giữ vị trí chiến lược về địa - chính trị và địa - kinh tế mà không phải quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài hơn 3.260 km trải dài từ Bắc tới Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, đảo quốc trên thế giới, với khoảng 3.000 đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ thế kỷ thứ X, Việt Nam chính thức giành được độc lập. Từ đó các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi việc bảo vệ biên cương, biển đảo của Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của dân tộc. Từ thời Lý, Trần, Lê, biển đảo được coi là chiến lược phát triển của quốc gia Đại Việt khi mở mang bờ cõi xuống phía Nam. Các tư liệu lịch sử còn lưu giữ và chứng minh hùng hồn rằng ít nhất từ thế kỷ XVII, triều đình nhà Nguyễn đã xác lập chủ quyền và tiến hành khai thác hiệu quả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi các quần đảo này còn là vùng đất vô chủ, chưa thuộc bất cứ một quốc gia nào. Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo này, các nhà nước phong kiến Việt Nam còn bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của Việt Nam và các nước qua lại; các hoạt động đó thể hiện việc thực thi chủ quyền lãnh thổ của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, ổn định, hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa, ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi cát vàng. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn tổ chức "Đội Hoàng Sa”, lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hoá, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp. Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm “Đội Bắc Hải " lấy người thôn Tứ Chính, xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa. Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như “Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá tự là Công Đạo (1686), “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776), "Lịch triều Hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú (1821), "Đại Nam thực lục tiền biên" (1844-1848), "Đại Nam thực lục chính biên" (1844- 1848), "Đại Nam nhất thống chí " do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), Dư địa chí "Khai định Đại Nam Hội điển sự lệ”, "Quốc triều chính biên toát yếu” (1910). Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như Hải ngoại ký sự (1696), An Nam đại quốc hoạ đồ (1838), Nhật ký Batavia, Ghi nhớ của Bá tước M.d. Estaing về cuộc hành quân tập kích vào Huế (1754), Bài viết của giám mục J.L. Taberd...

Cùng với nhiệm vụ khai thác hải sản và hàng hoá trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo... liên tục trong các năm 1834, 1835, 1836. Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Bia chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa năm 1930

Thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra đóng giữ các đảo. Để quản lý hành chính, ngày 21.12.1933, Thống đốc Nam Kỳ đã ra Nghị định số 4762-CP sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa (Nam Kỳ). Ngày 30.3.1938, Hoàng đế Bảo Đại ra Dụ số 10 (ngày 29.2 năm Bảo Đại thứ 13) tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Ngãi đặt vào tỉnh Thừa Thiên. Ngày 15.6.1938, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định số 156-S-V thành lập một đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa, tỉnh Thừa Thiên. Ngày 5.5.1939, Toàn quyền Đông Dương lại ký Nghị định số 3282 tách quần đảo Hoàng Sa làm hai đơn vị hành chính. Trong năm 1938, Pháp đã tiến hành dựng bia chủ quyền ở đảo Hoàng Sa, thuộc quần đảo Hoàng Sa, trên cột mốc có ghi dòng chữ "Cộng hoà Pháp, Đế quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa 1816, quần đảo Hoàng Sa - 1838". Pháp xây xong một cột hải đăng, lập trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (quần đảo Hoàng Sa) và một trạm khí tượng ở đảo Ba Bình (Trường Sa). Trong suốt các năm 1931 - 1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghị định số 4702 - CP ngày 21-12-1933 của Thống đốc Nam kỳ

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 06.9.1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng chính phủ miền Nam Việt Nam thời đó, trong phát biểu của mình, tiếp tục khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo: "Và cũng vì cần phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Spratlys và Paracels, tạo thành một phần của Việt Nam". Tiếp đó chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã duy trì việc đóng quân trên hai quần đảo, đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam trao cho quản lý tạm thời nửa nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do. Trong thời gian này, các chính phủ Việt Nam nói trên đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo bằng các hoạt động Nhà nước.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sắc lệnh số 174-NV ngày 13.7.1961 của Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm

Ngày 20.10.1956, Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã ra Sắc lệnh số 143-NV về thay đổi địa giới các tỉnh, thành phố miền Nam, trong đó đã đặt quần đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Phước Tuy. Trong Sắc lệnh số 174-NV ngày 13.7.1961 về việc sắp xếp lại quần đảo Hoàng Sa, Tổng thống chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại đây một đơn vị hành chính gọi là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam. Nghị định số 709-BNV-HCDP-26 ngày 21.10.1969 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hoà Long, quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam. Nghị định số 420-BNV-HCDP/26 ngày 06.9.1973 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Đối với quần đảo Hoàng Sa, tháng 4.1956, trong khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà đưa quân ra thay thế quân Pháp trên các đảo thuộc nhóm phía Tây, chưa kịp triển khai trên các đảo thuộc nhóm phía Đông, quân Trung Quốc đã bí mật đưa quân ra chiếm đóng các đảo này. Tháng 01.1974, khi Trung Quốc đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố ngày 20.01.1974 phản đối hành động của phía Trung Quốc. Ngày 14.02.1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 4.1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng các đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn do quân đội nguỵ đóng giữ. Ngày 20.01.1976, nước Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp hai quần đảo.

Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12.11.1977 về lãnh hải, vùng giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12.11.1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, các tài liệu này đã chứng minh một cách rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trên tất cả các khía cạnh: Lịch sử - pháp lý- thực tiễn.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hải quân Việt Nam trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa)

Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo, ngày 09.12.1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28.12.1982, trong kỳ họp thứ IV Quốc hội khoá VII đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hoà). Nghị quyết ngày 06.11.1996 kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Chính quyền hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hiện đang thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh Việt Nam là quốc gia đầu tiên chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình cho đến khi nó bị nước ngoài dùng vũ lực xâm chiếm. Về phía Trung Quốc, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã khẳng định thì tất cả các bản đồ của TQ trước năm 1909 đều không có Hoàng Sa, Trường Sa, cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Như vậy, từ lịch sử xa xưa cho tới nay và mãi mãi về sau hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ về lịch sử, pháp lý và thực tế để khẳng định điều đó. Dưới đây là những tư liệu của Trung Quốc và Việt Nam chứng minh hùng hồn chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

I. LỊCH SỬ TRUNG QUỐC THỪA NHẬN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

1. Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Cuốn “Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài “Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, về sự phát triển văn hoá và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”.

Đời nhà Minh (1368 - 1644), Minh Thành Tổ cử Đô đốc thái giám Trịnh Hoà chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông chứ không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban), thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hoà góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.

Đời nhà Tống (960 – 1279) trong cuốn “Chư Phiên Chí” của Triệu Nhữ Quát đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tuỳ (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Dư địa chí đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản

Đời nhà Đường (618 – 907) có sách “Đường Thư Nghệ Văn Chí” đề cập tới cuốn “Giao Châu Dị Vát Chí” của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống (1127-1279), cuốn “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) toạ lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía Nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về Giao Châu, Giao Chỉ.

Đời nhà Nguyên (1271 - 1368), quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Chí Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại. Trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực Nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Đời nhà Minh (1368 - 1644), Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực Nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hoà Hàng Hải Đồ cũng không ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa. Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ đời Minh

Đời nhà Thanh (1644 - 1911), từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Trong cuốn “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư” xuất bản năm 1906 có đoạn: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An - Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa toạ lạc về phía Nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa toạ lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh - Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn “Hải Lục” của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của Hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa. Trong cuốn “Hải Quốc Văn Kiến Lục” của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: “Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Cuốn “Hải Ngoại Kỷ Sự” (1695) của Thích Đại Sán - một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hoá của chúa Nguyễn ngày 29 tháng Giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi toạ lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ XVII.

Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do Tiến sĩ Mai Ngọc Hồng tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sau 30 năm lưu giữ. Tấm bản đồ này được lập dưới thời nhà Thanh, ghi rõ cực Nam nước này là đảo Hải Nam, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là tấm bản đồ nguyên vẹn, chiều ngang 115cm, chiều dọc 140cm. Bản đồ này được tạo nên từ 35 miếng ghép dán trên nền vải bố, kích cỡ mỗi miếng ghép khoảng 20x30cm.

Tiến sĩ Hồng cho biết, tấm bản đồ ông có được là mua lại từ một cụ già tên là Nguyễn Văn Công ở Phú Xuyên, Hà Nội trong thời gian làm quản lý một kho sách Hán Nôm (năm 1977-1978). Sau khi có được tấm bản đồ, ông Hồng đã dịch nghĩa lại hàng trăm chữ cổ, cắt nghĩa một cách rõ ràng xuất xứ, niên hiệu, thời gian thực hiện bản đồ. Cụ thể, ông Hồng cho biết, đây là tấm bản đồ được đích thân các hoàng đế nhà Thanh huy động lực lượng giáo sĩ, những người tài giỏi về thiên văn và toán pháp điền dã thực hiện.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ

Năm 1904, NXB Thượng Hải chính thức xuất bản tấm bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của triều đình nhà Thanh. Trong “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” không hề xuất hiện hình in, vẽ, tính toán, đo đạc tới các quần đảo ở biển Đông. Người Trung Quốc thời đó chỉ nhận đất đai tới cực nam là đảo Hải Nam. Theo ông Hồng, tấm bản đồ này là một tư liệu tốt để học giả nghiên cứu chủ quyền biển đảo, đồng thời nó cung cấp thông tin cho việc phản biện trên bàn quốc tế vì là bằng chứng chứng minh đất đai của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.

Mới đây, học giả Đức Nibelungen Schnecke Weinstock đã chỉ ra quá trình bản đồ Trung Quốc ngang nhiên vẽ thêm quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Theo thứ tự những tấm bản đồ do ông Weinstock cung cấp, cho đến trước năm 1917 quần đảo Hoàng Sa vẫn chưa hề xuất hiện trong bản đồ Trung Quốc. Mặc dù đô đốc nhà Thanh Lý Chuẩn năm 1909 cho các báo địa phương làm rùm beng cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa nhưng giới biên vẽ bản đồ nước này vẫn không xem quần đảo này thuộc Trung Quốc. Đây cũng là nhận thức chung của xã hội Trung Quốc thời bấy giờ. Tiếp đến, Trung Quốc tân hưng đồ 1917 cũng thể hiện rằng cực Nam Trung Quốc vẫn chỉ là đảo Hải Nam.

Trong bộ tem của nhà sưu tầm tem Việt Nam Nguyễn Văn Anh có được gồm 6 con, thuộc bộ tem Tưởng Giới Thạch - Quang Phục đại lục, được phát hành năm 1957 tại Đài Loan. Trên tem có dòng chữ Tem quốc dân hoa trung trên hoa văn bên dưới con tem, và dòng chữ Quang phục đại lục trên hình bản đồ toàn Trung Quốc.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

bộ tem của nhà sưu tầm tem Việt Nam Nguyễn Văn Anh

Bộ tem này ra đời trong bối cảnh Tưởng Giới Thạch có ý định tìm cách lấy lại đại lục và đổi cách nói “phản công đại lục” thành “quang phục đại lục”. Cách nói thay đổi này được áp dụng từ năm 1954 và mang lại cảm giác mới lạ, nhưng mang hàm nghĩa tương đương. Điều đáng nói là hình bản đồ toàn Trung Quốc trên 6 con tem này không hề có sự xuất hiện của Trường Sa, Hoàng Sa. Và chúng vẫn được sử dụng bình thường như một sự thừa nhận của chính quyền Đài Loan ngay từ năm 1957.

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa ngày 15.01.1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

2. Các học giả chân chính của Trung Quốc nói về đường chữ U (nuốt 80% Biển Đông trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam):

Giáo sư Trương Thự Quang, Đại học Tứ Xuyên nhấn mạnh, Trung Quốc không thể tự vẽ ra đường chín đoạn. Theo giáo sư Trương, khi Trung Quốc khăng khăng đưa ra “đường lưỡi bò” nhưng không có căn cứ để khẳng định và không được bất kỳ nước nào thừa nhận thì nó vô giá trị: “Quyền lợi của anh (Trung Quốc) cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì anh không có quyền”. Trong khi đó, Giáo sư Sun Zhe, Đại học Thanh Hoa lưu ý rằng, Trung Quốc nên hiểu: “Nam Hải (Biển Đông) không phải là “ao nhà” (internal lake) của Trung Quốc”.

Biên tập viên Tân Hoa xã Chu Phương, người có uy tín và nổi tiếng thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc, đã nhiều lần phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông và yêu cầu xoá bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa” mà Bắc Kinh vừa dựng lên. Trong bài viết “Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc” đăng ngày 17.7 ông viết: “Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra “thành phố Tam Sa” là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế.... Thiết lập “thành phố Tam Sa” là trò cười quốc tế”.

Giáo sư Thịnh Hồng thuộc Đại học Sơn Đông nhấn mạnh: “Chúng ta không nên chỉ nghĩ lợi ích cho mình mà cần phải quan tâm đến lợi ích của toàn thể thế giới bằng cách tuân thủ các quy tắc quốc tế”. Nhà nghiên cứu Lý Lệnh Hoa, thuộc Trung tâm Tin tức hải dương Trung Quốc cho rằng: “Chúng ta  - Trung Quốc vẽ đường chín đoạn mà không có một kinh độ hoặc vĩ độ cụ thể là không có căn cứ pháp luật”. “... Nước ta (Trung Quốc) là quốc gia ký và phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, cần phải tỏ rõ cho thiên hạ thấy sự thành tâm của mình, gương mẫu quán triệt và chấp hành toàn bộ mọi điều khoản của Công ước”. “Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 là một bản công ước vĩ đại, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống và tương lai tốt đẹp của nhân dân các nước trên thế giới, trong đó có nhân dân nước ta (Trung Quốc)”.

II. LỊCH SỬ VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Đại Nam nhất thống toàn đồ

Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: Từ đầu thời Chúa Nguyễn (1525 – 1776), tức đầu thế kỷ XVII, sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long - “sinh năm 1762, mất năm 1820”), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh (1627 – 1775) và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn.

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyền 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải (đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi).

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

An Nam đại quốc hoạ đồ

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

- Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.

- Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

- Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Cung lục dụ số 10 của vua Bảo Đại năm 1938 với nội dung sáp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên

- Tài liệu rất quý giá là Châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ Trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công và các cơ quan khác hay những dụ của các đời vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

- Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản...

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa (1961)

Trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng... Trên thực tế, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Ngọn hải đăng của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1945

Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật... Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân trú đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa. Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hoà Pháp ngày 26-7-1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Toàn cảnh cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa thời Pháp

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hoà ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.

Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng hoà (VNCH) và chính quyền này đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Lợi dụng tình hình rối ren khi Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Geneve năm 1954, Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối. Năm 1959, quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắt giữ 82 “ngư dân” Trung Quốc.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trạm thu phát tín hiệu radio trên đảo Hoàng Sa (1939)

Đối với nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH tiếp tục quản lý cho đến năm 1974. Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Năm 1975, chính quyền VNCH sụp đổ, Hải quân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông. Nhà nước Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước, thành lập huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc quản lý hành chính trên các quần đảo này. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Ngày 14.3.1988, Trung Quốc bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trụ sở hành chính của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974

Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng quy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên. Đây là chủ quyền chuyên biệt, không tuỳ thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị. Mọi sự tuỳ tiện chiếm cứ của nước ngoài dù có bằng vũ lực hay không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực. Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982. Về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam. Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam. Tại quần đảo Trường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Hơn nữa, bãi Tư Chính và đảo Trường Sa (Spratly) chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam.

III. LỊCH SỬ HÀNG HẢI THẾ GIỚI GHI CHÉP VỀ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Cách đây nhiều thế kỷ, người Phương Tây đã soạn nhiều tài liệu liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó có một số bản đồ, tư liệu và sách cổ ghi nhận các nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này từ lâu đời.

1. Nhật ký Batavia xuất bản vào các năm 1631-1636

Nhật ký của Công ty Ấn Độ - Hà Lan có ghi về những sự kiện các tàu biển thuộc Công ty Đông - Ấn bị nạn tại quần đảo Hoàng Sa thuộc xứ Đàng Trong như sau: “Ngày 20 tháng 7 năm 1634, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635), ba chiếc tàu Hà Lan tên Veehuizen, Schagen và Grootebroek, từ Batavia (Nam Dương) đến Touron cùng nhổ neo đi Formose (Đài Loan). Ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Veen-huizen tới Formose ngày 2 tháng 8, chiếc Schagen tới ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần quần đảo Paracels, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Trong số hàng hoá trị giá 153.690 florins, thủy thủ chỉ cứu được một số trị giá 82.995 florins, kỳ dư bị chìm đắm kể cả chiếc tàu và 9 người bị mất tích. Số hàng hoá cứu được, họ cất giấu nơi an toàn tại đảo Paracels. Thuyền trưởng Huijich Jansen và 12 thủy thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong. Họ hy vọng sẽ tìm được một thuyền lớn để ra cứu 50 thủy thủ còn ở lại trên đảo. Thuyền trưởng đem theo 5 thùng bạc và 3.570 réaux đựng trong 17 bao. Khi họ vào tới đất liền, họ không được đối đãi như ý muốn. Tất cả bạc và tiền bị tịch thâu bởi viên chức đặc trách hải môn và thương thuyền, mà người Hà Lan gọi là ongangmij.

Sau đó, họ được phép trở lại Paracels trên một chiếc tầu Nhật Bản tên Kiko, mà họ mua đứt, để đón 50 thủy thủ còn nơi đảo và lấy 4 thùng bạc còn lại. Tất cả đều được 3 chiếc tàu khác tên là Bommel, Goa và Zeeburg (cũng bị bão mà vào núp miền duyên hải xứ Đàng Trong) chở về Batavia. Tại đây viên thuyền trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Paracels và sự tịch thâu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.

Hai năm sau, dưới thời Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1635-1648), ngày 6 tháng 3 năm 1636, hai chiếc tàu Hà Lan khác tới Tou-ron. Thương gia Abraham Duijeker tiến về Faifo để gặp quan Trấn thủ; sau đó ông ta đi Thuận Hoá (Senoa) yết kiến Chúa Thượng, để xin giao thương, đặt thương điếm và đòi số tiền 23.580 réaux đã bị tịch thâu năm kia.

Thượng Chúa tiếp đón Duijeker rất trọng hậu và trả lời thẳng: “Những việc khiếu nại đó đã xảy ra dưới thời Vua cha, nay Chúa không hề hay biết; vả lại viên chức thuế quan ongangmij đã bị cách chức, tịch thu gia sản (vì tội đã ăn hối lộ tới 340.000 lượng bạc trong thời kỳ tại chức), đã bị xử trảm và phanh thây rồi”. Chúa Thượng xét rằng Ngài đã xử sự công minh lắm; nay chớ nhắc lại làm chi. Ngài cũng cam đoan từ nay pháp luật rất nghiêm minh và sẽ không bao giờ xảy ra những việc đáng tiếc như vậy nữa. Để bù vào sự thiệt thòi đó, Chúa Thượng chấp thuận cho người Hà Lan được tự do giao thương với xứ Đàng Trong, và miễn cho họ sắc thuế neo bến và các tặng phẩm.

Vì lẽ đó mà từ năm 1636, một thương điểm của người Hà Lan đã được thiết lập tại Hội-An do Abraham Duijeker làm Trưởng điểm”.

Nhật ký Batavia của Công ty Ấn độ - Hà Lan trích dẫn trên ghi nhận quần đảo Hoàng Sa (Pracel) lúc đó đã được đặt dưới sự kiểm soát của Chúa Nguyễn. Thuyền trưởng và thủy thủ tàu Grootebrock được Chúa Nguyễn cho phép để trở lại quần đảo Hoàng Sa.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI

2. Nhật ký chuyến đi quần đảo Hoàng Sa của các giáo sĩ Phương Tây ở Trung Quốc (1701)

Trong bài Điều huyền bí của các vành đai san hô - Nhật ký chuyến đi quần đảo Paracels của Jean Yves Clayes, đăng trên Tạp chí Đông Dương, số 46 năm 1941, tác giả trích dẫn đoạn nói về nỗi kinh hoàng khi qua quần đảo Paracels năm 1701 trong những lá thư của các giáo sĩ phương Tây ở Trung Quốc như sau: “Tàu nhổ neo, gió rất thuận và chỉ trong một thời gian ngắn đã đến ngang tầm mỏm đá Paracel. Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam. Đó là bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó - Nó trải dọc theo bờ biển xứ Cochinchina (Đàng Trong). Tàu Amphitrite lần đầu tiên du hành đến Trung Quốc đã suýt nữa thì bị đắm... có chỗ lối đi chỉ có 4,5 sải nước, nếu thoát được nguy hiểm ở đây thì như có một phép lạ... Bị đắm tàu trên những tảng đá khủng khiếp đó hoặc bị lạc mất không còn tí nguồn dự trữ nào thì hầu như cũng như nhau mà thôi...”.

Như vậy, tài liệu này đã ghi nhận quần đảo Paracel thuộc Vương quốc An Nam.

3. Nhật ký của Pierre Poivre (1744)

Pierre Poivre là một giáo sĩ kiêm thương nhân Pháp đã viết tập nhật ký về xứ Đàng Trong mang tên Paris 1744. Louis Malleret thuật lại, đăng trong tạp chí Sài Gòn 1942.

Khi mô tả về kinh thành Phú Xuân do Nguyễn Phúc Khoát xây dựng, Louis Malleret thuật lại về súng thần công bố trí trên tường thành như sau: “Những khoảng cách giữa các cột có đặt 1.200 khẩu súng thần công, trong số 800 khẩu bằng đồng thau, phần lớn các khẩu súng đó “bắn đạn loại” 4 livres, một vài khẩu loại 6 và có khẩu loại 24 livres” mang theo phù hiệu Bồ Đào Nha và niên hiệu 1661. Người ta cũng thấy ở đây những hòm nhỏ đựng vũ khí của vua Campuchia do người Bồ Đào Nha đúc, cũng như những khẩu thần công bằng sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ ghi của Công ty Đông Ấn Hà Lan, những khẩu súng này đã thu lượm được ở quần đảo Paracels trong số các di vật của các tàu từ Trung Hoa qua bị đắm”. Tài liệu này đã ghi nhận việc quản lý đối với quần đảo Hoàng Sa dưới thời chúa Nguyễn.

4. Ghi nhớ của Bá tước M.d. Estaing về cuộc hành quân tập kích vào Huế (1754)

Đây là một bản ghi nhớ về kế hoạch tập kích bất ngờ kinh thành Phú Xuân mà d'Estaing, đô đốc hải quân Pháp dự định tiến hành vào năm 1758 - 1759 nhưng không được thực hiện. Bản ghi nhớ này đã được in trong cuốn Hành động của Pháp ở Đông Dương của G.Taboulet, tập I, trang 145 -151, nhan đề Ghi nhớ của Bá tước d'Estaing về cuộc hành quân tập kích vào Huế.

Trong bài viết, tác giả thuật lại tình hình kinh thành Huế được ghi trong bản “Ghi nhớ” của d'Estaing như sau: “Kinh thành Huế được xây dựng trên bờ một con sông, khi nước triều lên thì các luồng của tàu có thể tới đó được. Không có thành luỹ gì cả, chỉ được bao quanh bằng một bức tường gạch đơn giản cao khoảng 8, 9 bộ, chung quanh có một nơi để rất nhiều đại bác, nhiều khẩu là được để trang trí hơn là để sử dụng. Ngưòi ta cho rằng số súng đó có thể tới 400 khẩu, một phần được đúc bằng gang, một số lớn là của Bồ Đào Nha được lấy đem về từ các vụ đắm tàu trước kia ở quần đảo Paracels”.

Khu vực quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa được ghi chú là Baixos de Chapar de Pulls Scir tạm dịch Bãi cát Champa là bãi đá ngầm nằm trong Vịnh Cochin Chine -Golfe de la Cochin Chine.

Tài liệu này cũng ghi nhận hành động thực hiện chủ quyền của Chúa Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa.

Chủ quyền pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Bản đồ Việt Nam do chuyên gia Hà Lan vẽ năm 1594 có ghi rõ Hoàng Sa của Việt Nam

5. Ghi chép về xứ Đàng Trong (1820)

Ghi chép về xứ Đàng Trong là bản tường trình về nước Việt Nam đầu đời Nguyễn do Jean Baptiste Chaigneau viết vào tháng 5 năm 1820. Trước khi rời Việt Nam về Pháp (sau 25 năm sống cạnh Vua Gia Long, từng giúp Gia Long chống phong trào Tây Sơn), Chaigneau đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp viết thư yêu cầu báo cáo tình hình cụ thể về Việt Nam. Mở đầu bản tường trình, Chaigneau mô tả về hình thể nước Việt Nam như sau: “Nước Cochinchina mà Vua ngày nay đã lên ngôi hoàng đế, gồm xứ Cochinchina đích thực (xứ Đàng trong cũ), xứ Tonkin (Đàng Ngoài cũ), một phần vương quốc Campuchia, vài hòn đảo có người ở không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, ghềnh và đá hoang vắng. Chỉ đến năm 1816, vị hoàng đế bây giờ mới giành quyền sở hữu quần đảo này” (trang 275).

6. Ghi chép về địa lý xứ Đàng Trong (1837)

Ghi chép về địa lý xứ Đàng Trong của Giám mục Jean Louis Taberd là bài viết vắn tắt về Việt Nam, nhưng tác giả cũng dành một đoạn viết về Paracels:

“Paracel hay Paracels là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến vĩ độ 11 độ Bắc, 107 độ Kinh tuyến Đông Paris. Một số nhà hàng hải vượt qua được một phần của những bãi đó nhờ vào sự may mắn hơn là sự dũng cảm. Nhưng một số khác thì thất bại trong cuộc hành trình. Người Cochinchina gọi quần đảo này là Cồn Vàng. Tuy quần đảo này không có gì ngoài tảng đá và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn thuận lợi, Vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ tăng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ và chính thức chiếm hữu mà hình như không một ai tranh giành với ông” (trang 745).

Bài viết của giám mục J.L. Taberd đã đồng nghĩa “Paracels” với “Bãi Cát Vàng” và ghi nhận quần đảo này đã được Vua Gia Long “chính thức chiếm hữu” năm 1816.

7. Địa lý của Vương quốc Đàng Trong (1849)

Địa lý Vương quốc Đàng Trong là cuốn sách do tiến sĩ Gutzlaff viết về địa lý nước Việt Nam thời Nguyễn năm 1849. Trong phần về bờ biển và hải đảo, Gutzlaff viết về quần đảo Hoàng Sa như sau: “Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến quần đảo Paracel (Bãi Cát Vàng), nó ở gần bờ bể An Nam 15 đến 20 dặm và lan giữa các vĩ tuyến 15 và 17 độ Bắc, và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu Vua xứ Cochin-China đã không đòi quần đảo ấy là của mình, với nhiều đảo và ghềnh rất nguy hiểm cho người hàng hải. Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần; nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài đảo bây giờ đã có người ở thường xuyên. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu.

Tuy rằng, hàng năm hơn mười phần trăm thuyền đến đây bị đắm, nhưng đánh cá được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất lớn. Chính phủ An Nam thấy những mối lợi có thể mang lại nếu đặt ra một ngạch thuế bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo Paracel, mà tác giả gọi là Cát Vàng) để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải nộp và để bảo trợ người đánh cá bản quốc.

8. Địa lý tóm tắt (1850)

Địa lý tóm tắt (Compendio di Geografia) là sách do Adriano Balbi soạn năm 1850. Trang 641 của sách này mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: Thuộc Vương quốc này cũng có quần đảo Paracels, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, nhóm đảo Hải tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này các trang 644-648 có viết về địa lý Trung Hoa không hề nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

IV. CÁC VĂN BẢN, ĐIỀU ƯỚC KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

Tại Hội nghị San Francisco, ngày 7.9.1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng: từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.

Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.

1. Tuyên bố Cairo ngày 27.11.1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, hội nghị tam cường Anh - Mỹ - Trung (Cộng hoà Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cairo (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: “ …Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hoà Trung Hoa”. Như vậy là về phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cairo khẳng định ý chí của các cường quốc buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hoà Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”, không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Hội nghị Postdam ngày 26.7.1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung đã ra Tuyên ngôn khẳng định “Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thi hành”. Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.  

Theo quyết định của Hội nghị Postdam, Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía Bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

3. Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8.9.1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hoà ước với Nhật Bản. Điều 2, Chương II của Dự thảo Hoà ước được Hội nghị thông qua với 46 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 1 phiếu trắng có ghi Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và các đòi hỏi của mình đối với các lãnh thổ được nêu rõ trong các khoản của điều này gồm: Triều Tiên; Đài Loan, Bành Hồ; Kerile, phần phía Nam đảo Sakhalin; Các đảo ở Thái Bình Dương; Châu Nam Cực; Các đảo thuộc các quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracel (Hoàng Sa).

Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Tuyên bố Cai-rô xác nhận và Hoà ước SanFrancisco khẳng định là của Trung Quốc chỉ bao gồm Đài Loan, Bành Hồ. Việc Hoà ước SanFrancisco tách riêng Đài Loan, Bành Hồ và Hoàng Sa, Trường Sa thành hai khoản riêng biệt (b, f) tự nó đã bao hàm ý nghĩa không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 7.9.1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.

Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.

Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cairo ngày 27.11.1943 và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26.7.1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cairo đến Hoà ước San Francisco ký ngày 8.9.1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đồng thời, việc không một quốc gia nào tại Hội nghị SanFrancisco năm 1951, phản đối hoặc bảo lưu về tuyên bố của Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam lúc đó về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo chứng tỏ cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ - BÁO TÂY NINH

Biên soạn – tổng hợp