Quốc hội nghe báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) 

Cập nhật ngày: 23/10/2019 - 14:50

Tiếp tục Chương trình làm việc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XIV, sáng ngày 23/10, Quốc hội nghe báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) trước khi tiến hành thảo luận toàn thể tại hội trường về Dự án luật này. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng điều hành nội dung làm việc.

Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh báo cáo tại Kỳ họp

Trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) trước Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh cho biết, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Ngay sau kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với Ban soạn thảo, các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, tiếp tục tổ chức các hoạt động tham vấn; phối hợp các đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức khảo sát, lấy ý kiến tại các địa phương.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội Báo cáo số 466/BC-UBTVQH14 ngày 22/10/2019 (gọi tắt là Báo cáo số 466), Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo tóm tắt với Quốc hội một số nội dung tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi):

Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo chỉnh lý theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; thích ứng với sự linh hoạt của thị trường lao động và góp phần dịch chuyển lao động từ khu vực không có quan hệ lao động sang khu vực có quan hệ lao động, từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức, bảo đảm tốt hơn quyền an sinh xã hội của người lao động.

Về mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, giảm giờ làm là xu hướng tiến bộ, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển, tay nghề người lao động ngày càng cao, cần giảm thời giờ làm việc để bảo đảm sức khỏe và an toàn cho người lao động. Việc tăng thời giờ làm thêm trong điều kiện công tác thanh tra, kiểm tra, chế tài xử lý vi phạm còn hạn chế sẽ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lợi dụng thời giờ làm thêm, khai thác tối đa sức lao động, hậu quả là người lao động sẽ cạn kiệt sức lao động sớm hơn so với tuổi lao động.

Kế thừa quan điểm của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa trước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không tán thành việc đề xuất mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa dù thực tế người sử dụng lao động và người lao động có nhu cầu. Dù vậy, Chính phủ vẫn mong muốn tiếp tục trình Quốc hội phương án tăng thời giờ làm thêm như đã trình tại kỳ họp thứ 7 để Quốc hội tiếp tục thảo luận. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo đề xuất 02 phương án kính trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến: 

Phương án 1,  quy định theo hướng giữ khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa như Bộ luật hiện hành, nhưng cần ghi rõ nâng thời giờ làm thêm theo tháng là 40 giờ/tháng thay vì 30 giờ/tháng và bổ sung quy định cụ thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ/năm để người lao động biết, làm cơ sở cho việc giám sát tuân thủ, bảo vệ được quyền lợi, sức khỏe của người lao động.

Phương án 2, nâng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa từ 300 giờ theo quy định hiện hành lên 400 giờ/năm theo đề xuất của Chính phủ. Quy định theo phương án này không khống chế thời gian làm thêm giờ theo tháng, nhưng Chính phủ phải tiếp tục nghiên cứu các kiến nghị của đại biểu Quốc hội, chuẩn bị danh mục cụ thể các ngành, nghề được mở rộng khung làm thêm từ trên 300 giờ đến 400 giờ, đánh giá tác động và bổ sung quy định trả lương lũy tiến làm thêm giờ kể từ giờ thứ 201 hoặc từ giờ thứ 301 trở đi và trình Quốc hội dự thảo Nghị định chi tiết.

Toàn cảnh Phiên họp.

Về tuổi nghỉ hưu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nêu rõ, chủ trương điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu chung đối với người lao động là nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 28-NQ/TW với mục tiêu lâu dài để chủ động ứng phó với xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Tuy nhiên, cùng với ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, quá trình lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật cho thấy, trong số các ý kiến đồng tình với quy định về tuổi nghỉ hưu, vẫn có hai quan điểm về vấn đề này. Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần quy định rõ lộ trình thực hiện trong dự thảo Bộ luật như phương án Chính phủ trình tại kỳ họp thứ 7. 

Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ nên quy định về nguyên tắc để giao Chính phủ quy định, hướng dẫn cho phù hợp với ngành nghề, tính chất công việc, môi trường và điều kiện lao động, địa bàn và cung, cầu của thị trường lao động, xu hướng già hóa dân số..., không nhất thiết phải có lộ trình như nhau đối với các nhóm lao động khác nhau và người lao động (nhất là nhóm lao động trực tiếp) sẽ dễ chấp nhận hơn.

Do còn có ý kiến khác nhau và đây là vấn đề có tác động lớn đối với người lao động và thị trường lao động, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo trình Quốc hội 02 phương án quy định về tuổi nghỉ hưu tại khoản 2 Điều 169 để xem xét, cho ý kiến (Các khoản 1, 3, 4 và 5 của 02 phương án là giống nhau).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, cả hai phương án đều đạt mục tiêu cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết 28-NQ/TW quy định rõ tuổi nghỉ hưu phải hướng tới. Đối với Phương án 1: bảo đảm minh bạch, rõ ràng, tuân thủ quy định của Hiến pháp về quyền của “người làm công ăn lương”, đáp ứng được yêu cầu quy định cụ thể về lộ trình cho từng năm và xác định được thời điểm hoàn thành.

Tuy nhiên, việc áp dụng chung cùng một lộ trình với các nhóm đối tượng lao động rất khác nhau trong thị trường lao động rất đa dạng là chưa thực sự phù hợp với hoàn cảnh, trình độ phát triển của ngành và nghề lao động Việt Nam, sẽ có tác động khác nhau và có thể gây ra sự phức tạp, hệ lụy cần phải được cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ lưỡng, cẩn trọng, nhất là trong bối cảnh chưa tạo được sự đồng thuận cao trong dư luận người lao động.

Đối với Phương án 2: bảo đảm tính linh hoạt, không quy định một lộ trình chung cho tất cả các nhóm đối tượng lao động có đặc điểm ngành nghề, điều kiện, môi trường làm việc rất khác nhau... mà phải tùy vào từng nhóm lao động cụ thể để Chính phủ có thời gian khảo sát, đánh giá kỹ, có bước đi điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu phù hợp.

Tuy nhiên, phương án này chưa xác định thời gian hoàn thành mà giao Chính phủ quy định, như vậy có thể sẽ dẫn đến phức tạp, khó khăn hơn khi thực hiện các quy định nghỉ hưu sớm hoặc kéo dài đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này và người lao động không xác định được việc mình sẽ nghỉ hưu vào thời điểm nào. Ủy ban Thường vụ Quốc hội kính trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

Về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo chỉnh lý tên gọi của tổ chức đại diện người lao động dự kiến sẽ được thành lập mới (không thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam) theo đúng tinh thần Nghị quyết 06-NQ/TW là: “Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” và quy định cụ thể “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm: Công đoàn cơ sở (thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam) và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp”, bổ sung Điều 171 quy định về “công đoàn cơ sở thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam”. Về việc định hướng trong một doanh nghiệp chỉ nên có tối đa từ 2 - 3 tổ chức của người lao động, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, nếu quy định như vậy chưa phù hợp với tinh thần Công ước 98 của ILO mà Quốc hội mới phê chuẩn.

Do vậy, xin phép Quốc hội cho được giữ như Dự thảo. Về việc quy định cụ thể thời gian làm việc cho cán bộ tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để làm nhiệm vụ  của tổ chức đại diện người lao động, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, vấn đề này cần được cân nhắc thận trọng trong bối cảnh mới khi không chỉ có duy nhất Công đoàn Việt Nam mà còn có tổ chức đại diện sẽ được thành lập không thuộc Công đoàn Việt Nam - đây là tổ chức mới, chưa có tiền lệ ở nước ta.

Mặt khác, quy định này của Luật Công đoàn cũng đang được nghiên cứu, tổng kết, xem xét sửa đổi. Do đó, xin đề nghị Quốc hội cho phép được giữ Điều 176 như dự thảo và giao Chính phủ thống nhất với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi quy định chi tiết và khi sửa đổi Luật Công đoàn. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy rằng, quy định “tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” là vấn đề mới và khó, chưa có thực tiễn, cần hết sức thận trọng, nên mức độ quy định như dự thảo là phù hợp. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ quan tâm, thận trọng và trong văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần làm rõ các nội dung đã được nêu trong Báo cáo số 466.

Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần khẩn trương tập trung nghiên cứu toàn diện việc sửa đổi Luật Công đoàn đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới và đòi hỏi của người lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Trên cơ sở tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh nêu rõ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất một số nội dung đề nghị các đại biểu Quốc hội tập trung cho ý kiến tại Phiên thảo luận như sau: về mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ tối đa; tuổi nghỉ hưu; nghỉ lễ, Tết; tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; thời giờ làm việc bình thường; giải quyết tranh chấp lao động và đình công và các nội dung khác mà các  đại biểu quan tâm để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Bộ luật trước khi trình Quốc hội thông qua.

Nguồn quochoi