Tập đoàn, Tổng Công ty hay “những người khổng lồ chân đất sét”? (*)

Cập nhật ngày: 09/11/2009 - 04:17

 

Tập đoàn, Tổng Công ty hay “những người khổng lồ chân đất sét”? (*)

ĐBQH Nguyễn Đình Xuân

Trong mấy năm qua, sự hình thành và phát triển quá nhanh của các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước đã vượt trước hệ thống pháp luật, khả năng giám sát, quản lý của Nhà nước và khả năng điều hành của chính những người lãnh đạo của những đơn vị đó. Có người ví các TĐ, TCT là “người khổng lồ chân đất sét” nên khó mà trụ vững khi có biến cố xảy ra.

Nhiều đơn vị thua lỗ kéo dài, hiệu quả đầu tư cực thấp nhưng chưa có giải pháp nào để khắc phục, có thể nói là nhiều đơn vị đã “chết” hoặc “coi như đã chết” nhưng chưa có thủ tục “khai tử”, xử lý nợ cần thiết theo Luật Phá sản Quốc hội ban hành năm 2004. Để càng lâu, tài sản Nhà nước càng thất thoát, trách nhiệm của những người liên quan càng mờ nhạt và hàng loạt các hệ luỵ khác đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan, và cả người lao động làm việc trong các đơn vị này.

Nhiều đơn vị đầu tư ngoài ngành, nhất là đầu tư về tài chính, ngân hàng trong khi năng lực không tương xứng, dẫn đến thua lỗ, mất vốn, nhưng vốn thì không tự sinh ra và mất đi, chưa ai kiểm tra xem số tiền ấy chạy đi đâu: các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài, các công trình mang tính phúc lợi hay vào túi các công ty con, cháu, sân trước, sân sau, sân trên, sân dưới?! Cần có cơ chế để giám sát quá trình này.

Hiệu quả của các TĐ, TCT quá thấp so với những lợi thế mà các đơn vị này đang nắm giữ: đất đai, thương hiệu, vị trí độc quyền, sự bảo lãnh của Nhà nước… Chỉ có 35/91 đơn vị (chiếm 38,4%) có tỷ suất lợi nhuận trên 15%, được coi là cao, nhưng thực tế những đơn vị có tỷ lệ lãi trên vốn 10-15% cũng là rất thấp, nếu để ý đến số “nợ phải trả trên vốn” lên đến 10 lần. Có nghĩa là lãi trên tổng số tiền đầu tư chỉ còn khoảng 1%, chưa nói đến những giá trị khác mà Nhà nước chưa tính đúng, tính đủ. Vậy thì khi nào các đơn vị này mới trả được nợ? Lưu ý là nếu các DN này không trả được nợ, Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng của Nhà nước sẽ phải gánh chịu Theo chuẩn mực quốc tế, khi mà các TĐ, TCT lâm vào nguy cơ phá sản là phải được đặt ngay dưới sự giám sát của Nhà nước và các tổ chức có trách nhiệm, nếu thấy không thể giải cứu là phải làm thủ tục phá sản ngay, không đợi đến khi mất khả năng chi trả hoàn toàn hoặc phát sinh hậu quả nghiêm trọng hơn. Ví dụ, nợ quá hạn của riêng Vinashin đã lên đến 3,812 nghìn tỷ, chiếm đến 91,4% tổng số nợ quá hạn của 7 tập đoàn, hàng tỷ đô la nợ nước ngoài do Nhà nước vay hộ hoặc bảo lãnh, sắp đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi mà không nhìn thấy nguồn thu, chưa kể nợ dây dưa các đối tác trong nước mà báo chí đã phản ánh vừa qua.

Về quản lý Nhà nước, sự phân công quyền hạn phải đi đôi với cơ chế giám sát và phân cấp về trách nhiệm. Quyền lực kinh tế là một quyền lực rất lớn, nó cần được chế ước và giám sát để tránh tiêu cực, lạm quyền. Ví như việc mua 1 con tàu cũ với giá trên 1 nghìn tỷ đồng rồi nằm đắp chiếu mà ĐBQH Đà Nẵng đã phát biểu, Bộ Giao thông trả lời đó là quyền của DN, Bộ không can thiệp. Vậy trách nhiệm để thua lỗ này thuộc về ai? Tương tự như vậy, có nhiều dự án, đơn vị đầu tư tại các địa phương, chính quyền địa phương thấy không hợp lý, thậm chí phát hiện có sai phạm nhưng không có cơ chế giám sát, phản biện hữu hiệu.

Cử tri đặt câu hỏi: SCIC (TCT đầu tư vốn của Nhà nước) và các nhà lãnh đạo kinh tế chịu trách nhiệm gì về tình trạng hoạt động kém hiệu quả của phần lớn các đơn vị Nhà nước? Nếu là vốn của cá nhân họ thì họ có làm thế không? Để tránh đổ lỗi cho việc phải thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội, cần tách bạch rõ hai nhóm đầu tư này, cần thay đổi cách giao nhiệm vụ của Chính phủ với doanh nghiệp, ví như 5.000 tỷ đồng năm nay định giao thẳng cho các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, cần có dự án trước, có chủ đầu tư rõ ràng rồi mới ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ cụ thể với các đơn vị này.

N.D.X