Góp ý dự thảo tài liệu biên soạn văn học địa phương Tây Ninh:

Đôi điều cần xem lại trong bài viết về tiền hiền Trần Văn Thiện

Cập nhật ngày: 09/04/2014 - 03:30

Một góc sông Bến Kéo, làng Long Thành cũ vào năm 1900 (ảnh tư liệu).

Bản dự thảo sách Văn học địa phương tỉnh Tây Ninh giảng dạy trong trường phổ thông là một đề tài nghiên cứu khoa học đang được Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh thực hiện. Ở phần lớp 6- Học kỳ 1 có bài “Tiền hiền Trần Văn Thiện, thành hoàng đình Long Thành”.

Cuối bài viết, tác giả có ghi thêm một dòng: Dựa theo Tây Ninh xưa của Huỳnh Minh. Ghi thế có thể chấp nhận được, vì trong bài soạn, tác giả đã sửa một số chữ viết sai chính tả, hoặc câu văn theo lối cổ cũng như một số đoạn có thể được coi là “nhạy cảm” không nên giữ lại.

Ví dụ: Long Chử đã đổi thành Long Chữ (cho đúng chính tả). Hoặc Huỳnh Minh viết: “nông nghiệp có phần không phát triển đặng” được tác giả sửa thành: “Nông nghiệp không mở mang được” để học sinh có thể dễ hiểu hơn, do chữ đặng đã cổ điển, người nay rất ít dùng.

Một chi tiết quan trọng nữa là đoạn Huỳnh Minh viết về nhân vật Pu Kâm Pô: “Lúc bấy giờ giặc Pu Kâm Pô nổi lên (dân Thổ Cao Miên) thường tràn xuống vùng kế cận Tây Ninh để cướp phá…” đã được tác giả thay bằng: “Lúc bấy giờ có nhiều toán cướp bóc, phá hoại sản xuất và đời sống của nhân dân…”.

Tác giả cũng đã cắt đi một chi tiết sai biệt với lịch sử trong sách Tây Ninh xưa, khi đề cập đến việc quan phủ cho lập hai làng Long Đình thôn và Thái Đình thôn. Bởi nếu cho rằng “Thái Đình thôn nay gọi là làng Hiệp Ninh” như đã ghi trong “Tây Ninh xưa”, thì không đúng với tư liệu có trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, ấy là làng Hiệp Ninh đã có trước đó với tên gọi là thôn Khang Ninh (vào năm 1836); chi tiết này cũng đã được xác định tại một cuộc hội thảo khoa học về sự ra đời của địa danh Tây Ninh vào tháng 1.2013.

(Qua hội thảo đã có kết luận về thời điểm thành lập phủ Tây Ninh cũng là lúc cái tên Tây Ninh ra đời vào mùa thu năm 1836).

Những thay đổi kể trên của tác giả bài “Tiền hiền Trần Văn Thiện- thành hoàng đình Long Thành” so với nguyên bản bài viết của Huỳnh Minh: “Tiền hiền Trần Văn Thiện, vị thành hoàng đình Bến Kéo (xã Long Thành)” là hợp lý và chấp nhận được.

Nó giữ được tương đối đúng về nội dung, mà lại dễ dàng tiếp nhận hơn- nhất là với đối tượng học sinh trung học cơ sở.

Tuy vậy, điều đáng nói là tác giả bài viết đã không truy tìm nguồn gốc các sai sót khác có trong nguyên bản, để đính chính lại cho rõ hoặc sửa sai.

Điều này có thể gây thắc mắc cho các em học sinh ngay trong tiết học. Đấy là chi tiết về tuổi cụ Trần Văn Thiện.

Cả sách Huỳnh Minh và bản dự thảo giáo khoa đều ghi: “Cụ Trần Văn Thiện sinh năm Ất Mão (1795)… Năm 1884 đúng năm mươi tuổi, cụ xin thôi chức (thôn trưởng)”. Thật ra, với các mốc thời gian trên thì cụ Thiện phải 89 tuổi mới đúng.

Để tìm ra sự thật về tuổi của cụ, buộc phải tìm đến những tư liệu gốc của dòng họ Trần, hiện ngụ tại ấp Long Trung, xã Long Thành Trung, huyện Hoà Thành.

Trong bản “Di ngôn và lý đoán” của cụ Trần Văn Liêng, người cháu gọi cụ Thiện là ông sơ, lập vào năm 1949 để lại có ghi: “Cụ sơ tôi là ông Trần Văn Thiện sinh năm 1788 tại làng Trung Lập được 40 tuổi, đành lìa quê hương tách thân lên vùng này để quy dân lập ấp… đặng 50 tuổi, thì quan trên cho sơ tôi làm chức thôn trưởng, mới đặt hiệu làng là Thới Long”.

Như vậy, đó là vào năm 1837. Còn nếu cụ Thiện sinh năm 1795, thì năm cụ 50 tuổi phải là 1844 (theo cách tính tuổi mụ của người Việt trước kia).

Cả hai giả thiết về năm sinh kia đều có thể chấp nhận, vì trong chính sử cũng ghi về việc lập các thôn làng ở Tây Ninh vào khoảng giữa thập niên 40 của thế kỷ 19, ví dụ: “Vào tháng 3.1845, quyền Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực báo cáo đã thành lập được 26 thôn xã sau một thời gian thi hành chính sách chiêu dụ lập ấp trong phủ Tây Ninh” (Đại Nam thực lục).

Một chi tiết khác mà cả sách Tây Ninh xưa và bản thảo giáo khoa đều sai là đoạn: “năm 1814, cụ và một số người cùng chí hướng đã đệ đơn lên ông Bạch Văn Lý, tri huyện phủ Tây Ninh xin khai hoang để canh tác khu đất…” (nay là xã Long Thành- TV).

Nhưng trong bản sách còn có thêm 5 chữ ở trước năm 1814 là: “Thiệu Trị năm thứ tư” giúp độc giả biết là tác giả, hoặc nhà in đã in lầm.

Còn bản thảo sách giáo khoa không còn 5 chữ ấy nữa, nên chỉ thấy là cực kỳ vô lý. Vì đến 50 tuổi (1844), cụ Thiện mới xin thôi chức trưởng làng Trung Lập để đi “quan sát vùng Tây Ninh”.

Sao lại cho cụ… ngược lại tuổi 20 (1814) có đơn khai phá đất Long Thành? Nếu chuyện xảy ra đời vua Thiệu Trị (1841-1847); vậy chỉ có thể đấy là năm 1844. Bởi giai đoạn  từ 1804 đến 1820 do vua Gia Long trị vì.

Còn một sai sót khác trong bài soạn của sách khoa dự thảo là ở câu “Quan phủ Tây Ninh đã tấu sớ về kinh thành Huế. Triều đình nhà Nguyễn đã cho phép xây dựng đình ở Bến Kéo thờ cụ…”.

Thật ra, thời đó quan phủ hoàn toàn có quyền cho phép cất đình, không cần phải xin tận triều đình. (Về điểm này thì sách “Tây Ninh xưa” ghi chép hợp lý hơn: “Tri phủ Tây Ninh… tấu sớ về kinh đô Huế, và cho phép cất đình tại Bến Kéo để thờ ngài”- nghĩa là cả hai hành vi tấu sớ về triều và cho phép cất đình đều là của quan phủ).

Ngoài ra, ở phần chú thích dưới bài học, có chỗ cũng chưa ổn! Ví dụ, khi nói về ý nghĩa của hai chữ “tiền hiền”, tác giả chỉ “phiên dịch” âm Hán Việt để giải thích rằng tiền hiền là “người tài giỏi thời trước”.

Trong khi đó, nhiều bà con nông dân ở các địa phương có đình đều biết câu: “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ”- nói về hai đối tượng được thờ cúng trong đình.

Để rõ hơn, xin nêu lên đây lời giải thích của hai nhà nghiên cứu đình miếu Nam bộ Huỳnh Ngọc Trảng và Phan Ngọc Tường để các thầy cô tham khảo: “Những người có công khai hoang, xin phép lập làng lúc sống được làm hương chức, khi chết được tôn làm tiền hiền khai khẩn.

Còn người có công khai thị, tu kiều, bồi lộ (lập chợ, sửa cầu, đắp đường- TV) được tôn làm hậu hiền khai cơ” (sách Đình Nam bộ xưa và nay, Nxb Đồng Nai 1999).

Đã là sách giáo khoa, thì không thể để có sai sót. Vậy nên mới có bài viết này, mong được các thầy cô soạn sách và hội đồng khoa học tỉnh quan tâm.

N.Q.V