Hotline: 02763.822322
|
Đọc báo in
Tải ứng dụng
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tây Ninh tích cực thi đua xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ Tây Ninh
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tây Ninh tích cực thi đua xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ Tây Ninh
Thầy thuốc của bạn
Thứ hai: 06:12 ngày 31/08/2009

Theo dõi Báo Tây Ninh trên
google news
(BTNO) - Hỏi: Nữ, 37 tuổi, sức khoẻ trung bình. Tôi đau dạ dày khoảng 7 năm, lúc mới bị bệnh tôi thường bị đau ở vùng bung. Gần đây tôi ít bị đau hơn nhưng ăn uống khó tiêu, thường xuyên ợ hơi đặc biệt là lúc sau khi ăn xong, đi ngoài thường không bình thường…

Hỏi: Nữ, 37 tuổi, sức khoẻ trung bình. Tôi đau dạ dày khoảng 7 năm, lúc mới bị bệnh tôi thường bị đau ở vùng bung. Gần đây tôi ít bị đau hơn nhưng ăn uống khó tiêu, thường xuyên ợ hơi đặc biệt là lúc sau khi ăn xong, đi ngoài thường không bình thường. Bác sĩ có thể hướng dẫn tôi cách điều trị bệnh này được không. Tôi cảm thấy thật khổ sở vì nó ảnh hưởng không ít đến sinh hoạt và học tập của tôi. Xin chân thành cảm ơn Bác sĩ - Nguyễn Thanh Th. (khu phố 3, thị trấn Hoà Thành, Hoà Thành, Tây Ninh)

Đáp: Loét dạ dày tá tràng là căn bệnh phổ biến ở trên thế giới cũng như ở Việt nam. Loét dạ dày (LDD), loét tá tràng (LTT) là những tổn thương mất niêm mạc, đã phá huỷ qua lớp hạ niêm mạc xuống tới lớp cơ hoặc sâu hơn. Gọi là LDD khi ổ loét khu trú từ tâm vị đến môn vị. LTT là khi có ổ loét nằm phía dưới lỗ môn vị. Ước tính khoảng 8-10% dân số thế giới bị loét dạ dày tá tràng ( LDDTT ), trong đó LDD chiếm khoảng một phần tư. Ở các nước châu Âu, tỷ lệ LDDTT khoảng 5-10% dân số.

1. Các yếu tố nguyên nhân loét dạ dày tá tràng

1.1. Về kinh điển: Người ta cho rằng loét DDTT là sự mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và bảo vệ niêm mạc dạ dày.

- Các yếu tố bảo vệ niêm mạc gồm; chất glucoprotein dạng keo phủ bề mặt niêm mạc, lưu lượng máu ở niêm mạc, tế bào chế nhầy, sự cung cấp oxy ở niêm mạc.

- Các yếu tố tấn công như: thuốc giảm đau không Steroid (NSAID), muối mật, acid HCL, pepsin, thuốc lá, rượu và gần đây là vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP).

Mất cân bằng xẩy ra khi yếu tố tấn công tăng lên, yếu tố bảo vệ bình thường hoặc khi yếu tố tấn công bình thường nhưng yếu tố bảo vệ yếu đi. Sự mất cân bằng dẫn đến mất chất không sửa chữa được và dần dần hình thành ổ loét. Trong các yếu tố tấn công thì acid-pepsin được coi là yếu tố có vai trò quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong việc hình thành ổ loét. Các stress tinh thần, dùng thuốc NSAID dài ngày có thể hình thành ổ loét. Thuốc lá và rượu làm tăng nguy cơ loét và tỷ lệ tái phát.

1.2. Quan điểm hiện nay: Từ năm 1983 khi Warren và Marshall công bố những bằng chứng có tính thuyết phục về vi khuẩn Helicobacter pylori, quan niệm về bệnh sinh loét dạ dày tá tràng đã có những thay đổi về cơ bản. Ngày nay người ta cho rằng Helicobacter pylori có vai trò quan trọng chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh loét dạ dày tá tràng. Nhiễm Helicobacter pylori dẫn đến viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày và có thể đưa đến ung thư dạ dày.

Đối với nhóm loét loét dạ dày tá tràng không nhiễm Helicobacter pylori

a. Nhóm thuốc kháng axít: có tác dụng trung hoà axít của dịch dạ dày, được sử dụng chủ yếu để điều trị khi có biểu hiện đầy bụng, ợ hơi, đau bụng vùng thượng vị. Thuốc kháng axít đang được sử dụng như muối aluminium hoặc magnesium. Dùng dài ngày muối aluminium thường gây táo bón còn các muối magnesium gây tiêu chảy.

b. Các thuốc chống tiết axít: bao gồm các thuốc ức chế bơm proton đang được sử dụng như: Omeprazole, Esomeprazole, Lanzoprazole, Pantoprazole, Rabeprazole và các thuốc ức chế thụ thể H2- Histamin (Cimetidine, Ranitidine... ).

c. Thuốc bảo vệ niêm mạc: Bismuth dạng keo, Sucralfate, Prostaglandine.

Đối với loét dạ dày tá tràng nhiễm Helicobacter pylori (HP). Chủ yếu là điều trị diệt trừ HP và đề phòng tái phát.

Các phác đồ 3 thuốc đang được khuyến cáo sử dụng hiện nay bao gồm:

1 Bismuth và 2 kháng sinh, hoặc 1 thuốc ức chế thụ thể H2-histamin và 2 kháng sinh, hoặc 1 thuốc ức chế bơm proton (PPI ) và 2 kháng sinh.

Các kháng sinh có tác dụng diệt trừ HP đang được sử dụng như: Tetracycline, Amoxicilline, Clarythromycine, Imidazole.

Phác đồ có hiệu quả nhất hiện nay là 1 thuốc ức chế bơm proton (PPI ) và 2 kháng sinh (Clarythromycine và Amoxicilline)

Thời gian điều tri 15 ngày. Liều lượng theo toa bác sĩ hoặc theo hướng dẫn kèm theo hộp thuốc.

Nếu thất bại với phác đồ 3 thuốc, có thể áp dụng phác đồ 4 thuốc bao gồm 2 thuốc chống loét và 2 kháng sinh. Tuy nhiên với phác đồ 4 thuốc, người bệnh sẽ phải uống nhiều thuốc và kèm theo là tăng các tác dụng phụ. Người bệnh nên đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa để được tư vấn thêm, tránh lo lắng khi dùng thuốc.

Bs. Lê Trung Ngân

Từ khóa:
Báo Tây Ninh
Tin cùng chuyên mục