Theo dõi Báo Tây Ninh trên
(BTNO) -
(BTNO) - Vừa qua, Hội Nhà báo Tây Ninh tổ chức chuyến đi thực tế cho một số hội viên tỉnh nhà. Cuối cuộc hành trình qua bốn tỉnh miền Tây, chúng tôi đến huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Bước chân lên đảo, tôi bỗng cảm thấy bồi hồi khôn tả, tâm trí như quay ngược trở lại khoảng thời gian 40 năm về trước.

|
|
Phà biển Hà Tiên - Phú Quốc cập bến Bãi Thơm, phía Đông huyện đảo Phú Quốc. Ảnh: N.T.H
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30.4.1975), tôi là chiến sĩ quân báo thuộc Trung đoàn Không quân 937 đóng quân tại sân bay Trà Nóc, Cần Thơ. Vào một ngày cuối tháng 9 năm ấy, Đại uý Khương Tại- Tham mưu phó Trung đoàn cho gọi tôi đến sở chỉ huy, ông giao tôi nhiệm vụ tháp tùng đoàn cán bộ cao cấp của Tổng cục Chính trị do Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp làm trưởng đoàn ra đảo Phú Quốc và Côn Đảo.
Đơn vị khi đó có hai tổ thông tin liên lạc đóng tại sân bay Dương Đông (Phú Quốc) và sân bay Cỏ Ống (Côn Đảo). Tôi lãnh trách nhiệm cùng hai tổ thông tin bảo đảm liên lạc thông suốt khi đoàn làm việc tại Phú Quốc và Côn Đảo.
“Quân lệnh như sơn”, Tham mưu phó nói xong, tôi lập tức lên đường. Chiếc máy bay MI-8 của Liên Xô sản xuất chuẩn bị cất cánh, tôi là người bước lên cuối cùng, không kịp mang theo tư trang cá nhân, trong khi chẳng biết đoàn ra đảo bao giờ mới trở lại đất liền. Thế là 7 ngày đêm trên đảo tôi phải mượn đỡ tư trang của anh em trong tổ thông tin để sử dụng.
Đoàn cán bộ ra đảo làm gì chúng tôi hoàn toàn không được biết, nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là bảo đảm thông tin liên lạc khi đoàn yêu cầu. Cả một tuần lễ ấy tổ thông tin chúng tôi chỉ được yêu cầu chuyển hai bức điện được mã hoá đến một địa chỉ mang mật danh lạ hoắc.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về đơn vị, mới được nghe thủ trưởng Khương Tại nói riêng cho biết: khi quân và dân ta đang rầm rập tiến công giải phóng miền Nam, quân Khmer đỏ của Pôn Pốt, lúc này đã giải phóng Campuchia trước ta gần hai tuần, lén lút đưa quân ra chiếm các đảo hòn Khoai, hòn Chuối, quần đảo Thổ Chu trên biển Tây. Chúng sát hại dã man hơn 500 người dân vô tội sống trên các đảo.
Đoàn cán bộ cao cấp của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đi khảo sát đảo Phú Quốc và Côn Đảo để động viên tinh thần quân dân trên các hòn đảo mới giải phóng, sau đó thống nhất kế hoạch giao cho Phi đội 4 (Phi đội Quyết Thắng đã dùng máy bay A37 của Mỹ đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28.4.1975) tiếp tục dùng máy bay A37 cất cánh từ sân bay Trà Nóc phối hợp với Hải quân và lực lượng vũ trang Quân khu 9 giải phóng các đảo trên biển Tây do Khmer đỏ chiếm đóng.
Đoàn còn khảo sát Trại giam tù binh Phú Quốc và Trại cải huấn Côn Đảo của chế độ cũ. Khi ấy cấp trên có dự kiến dùng hai nơi này làm trại cải tạo những sĩ quan quân đội Sài Gòn ra trình diện. Nhưng sau khi khảo sát, đoàn đề xuất ý kiến không tán thành kế hoạch trên, vì hai nơi này là nơi đối phương giam cầm, hành hạ, tra tấn cán bộ, chiến sĩ cách mạng rất dã man, nếu giờ ta cũng làm nơi cải tạo số sĩ quan nguỵ sẽ rất phản tác dụng với chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước.
Những ngày ở sân bay Dương Đông, tranh thủ giờ nghỉ, mấy anh em trong tổ chúng tôi phân công người trực, số còn lại kéo nhau ra thị trấn Dương Đông chơi. Có lần tôi vào một quán giải khát kêu mấy ly đá chanh, chưa uống hết nước thì cục đá trong ly đã tan hết.
Tôi xin thêm cục đá, chị chủ quán cười cười bảo: “Chú phải kêu thêm một ly nữa mới có đá”. Phải nói thêm, thời điểm ấy, nước đá phải chở từ đất liền ra đảo nên rất hiếm và giá rất đắt, không phải như bây giờ trên đảo Phú Quốc có tới mấy chục nhà máy sản xuất nước đá để cung cấp cho các đoàn tàu đánh bắt cá cơm của hàng trăm nhà thùng làm nước mắm trên đảo và các tàu khai thác hải sản.
Chúng tôi kéo nhau ra chợ Dương Đông, thấy cơ man nào là hải sản tươi sống, nước mắm và hồ tiêu giá rất rẻ. Bạn tôi mua một mớ ghẹ chừng vài chục con giá chỉ có hai mươi xu. Phụ cấp hạ sĩ của tôi khi ấy là ba đồng ba mươi xu- tiền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam phát hành thay cho đồng tiền của chính quyền Sài Gòn cũ (với mệnh giá quy đổi năm trăm đồng tiền Sài Gòn đổi một đồng tiền cách mạng).
Bốn đứa chúng tôi ăn no kềnh mà không hết mớ ghẹ. Nhà của người dân trên đảo lúc ấy hầu hết đều tạm bợ, rất nhiều nhà tranh vách đất, một số hộ khá giả hơn làm nhà bằng gỗ, chỉ một vài ngôi nhà của các chủ hãng nước mắm mới xây gạch.
Đường sá đi lại rất khó khăn. Xuyên suốt nửa chiều dài hòn đảo chỉ có độc một con đường đất đỏ từ cảng cá An Thới phía Nam đảo lên thị trấn Dương Đông. Toàn bộ phần Bắc đảo là rừng rậm, việc đi lại nhờ vào những con đường mòn xuyên rừng. Phương tiện của cư dân trên đảo lúc ấy hầu như chỉ có xe đạp, còn xe máy cực hiếm.
Vận tải công cộng chưa có gì, người dân đi lại chỉ nhờ vào xe đạp ôm. Đơn vị bộ đội đóng quân trên đảo dùng chiếc xe Jeep lùn của Mỹ chở đoàn cán bộ đi những nơi đoàn cần đến. Vì nhiệm vụ, chúng tôi không dám đi đâu xa, chỉ loanh quanh khu chợ Dương Đông. Một buổi tối anh em trong tổ đem về đưa cho tôi một can nhựa mười lít đựng đầy nước mắm nhỉ và một bọc hai ký tiêu sọ.
Tôi hỏi giá để trả tiền, bạn tôi bảo: “Tặng mày đem về trong ấy cho anh em thưởng thức hương vị Phú Quốc, tiền bạc có đáng là bao đâu, tao đổi có một cân đường và một hộp sữa thôi”. Thời ấy, người dân trên đảo dù có tiền cũng khó mà mua được các loại nhu yếu phẩm như thuốc chữa bệnh, dầu lửa, đường, sữa, bột ngọt... Tất cả các loại hàng thiết yếu ấy đều do Nhà nước phân phối theo định lượng, người tiêu dùng cần thêm món gì chỉ có thể trao đổi với nhau, hoàn toàn không có “chợ đen” như trong đất liền.
Đúng bốn mươi năm mới trở lại Phú Quốc. Lần này tôi đi cùng đoàn bằng xe ô tô từ Tây Ninh, sau khi ghé mấy tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang chúng tôi sang Rạch Giá rồi đến Hà Tiên. Đến bến phà Thạnh Thới, cả xe và người cùng lên phà vượt biển.
Mỗi ngày phà có 4 chuyến đi từ Hà Tiên ra Phú Quốc và ngược lại, người, xe lên xuống tấp nập. Phà là một con tàu biển khá hiện đại, trọng tải hơn cả ngàn tấn, có ba tầng, tầng giữa là nơi đậu các loại xe khách, xe tải, tầng hầm làm quán bar phục vụ hành khách, tầng trên cấu trúc như khoang máy bay chở khách nhưng rộng lớn hơn nhiều, có sức chứa tới 400 hành khách với ghế nệm có thể bật ra nằm.
Từ lúc xuất hành, phà đi hết 2 giờ 40 phút là cập bến bên kia, lúc di chuyển trên mặt biển phà chỉ rung lắc rất nhẹ, ngồi hàng ghế giữa nếu không chú ý khó nhận biết mình đang vượt biển. Anh Hà, nhân viên phục vụ trên phà cho biết: phà này là của một công ty tư nhân hoạt động đã hơn 5 năm, mỗi ngày có từ 500 đến 700 lượt người, hơn 100 lượt ô tô, 300 lượt xe máy qua lại. Từ ngày có phà biển, hoạt động giao thương giữa đất liền và hải đảo tăng lên mạnh mẽ, lượng khách du lịch cũng ngày càng đông, xe vận chuyển hàng hoá qua lại nhộn nhịp.
Trên đảo Phú Quốc, nhiều tuyến đường giao thông đã được nâng cấp, thảm bê tông nhựa thông thoáng, đi lại dễ dàng. Tỉnh lộ 46 chạy suốt từ Nam lên Bắc đảo hơn 70km, ngang qua sân bay quốc tế Phú Quốc và thị trấn Dương Đông- trung tâm huyện đảo.
Thế mà vẫn còn khoảng 8km đường đá đỏ từ bến phà Thạnh Thới tới ngã ba Bãi Thơm đi thị trấn Dương Đông gọi là đường Đông đảo với nhiều ổ gà, ổ voi, hai bên đường rất ít nhà dân và hầu như không có cơ sở dịch vụ nào.
Đây là một đoạn trên tuyến đường vành đai Vườn quốc gia Phú Quốc. Ai đi từ Hà Tiên ra Phú Quốc bằng phà biển đều phải đi qua đoạn đường này, mọi người đều có chung một ước muốn: giá như đoạn đường này cũng được nâng cấp, rải thảm nhựa thì tuyến du lịch trên “đảo ngọc” mới thật hoàn hảo.
|
|
Khu phục chế di tích nhà tù Phú Quốc- ảnh N.T.H
Đến đảo Phú Quốc không thể không đến thăm viếng khu di tích nhà tù Phú Quốc, nơi “địa ngục trần gian” đã từng giam cầm, tra tấn, hành hạ gần 30.000 lượt chiến sĩ cách mạng. Hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh do bị tra tấn dã man bằng các hình phạt tàn bạo không khác thời trung cổ như bẻ răng, rút móng chân, móng tay, đóng đinh vào người, thả vào chảo nước sôi, chôn sống…
Có một tay thượng sĩ nhất tên Nh. đã từng tra tấn dã man biết bao chiến sĩ ta bằng một chiếc búa nhỏ làm bằng vỏ đạn. Nghe kể hồi đó ông ta thường bóp mạnh hai má cho tù binh há miệng ra, đoạn mổ chiếc búa quái đản ấy một nhát cho ngập chân răng rồi… bẻ ngang chiếc răng của nạn nhân.
Sau ngày giải phóng, Nh. không dám vào đất liền, mà ở lại đảo. Được cải tạo tại chỗ, về sau ông ta nhiều lần “cộng tác” với Ban quản lý khu di tích, trực tiếp hướng dẫn và thuyết minh lại ngón nghề tra tấn của chính mình cho du khách đến thăm đảo, trong đó có cả những cựu tù binh.
Không rõ khi phải kể tội chính mình, ông ta có cảm tưởng thế nào, có thấy sám hối hay không? Khu di tích nhà tù Phú Quốc có lẽ vì ở khá xa khu vực trung tâm đảo và địa điểm tham quan du lịch nên còn khá vắng vẻ. Việc tái tạo, phục chế khu di tích vẫn đang được thực hiện nhưng nhìn chung trông có vẻ còn đơn điệu, chưa thật xứng với tầm vóc lịch sử một thời hào hùng và bi tráng.
Những năm gần đây, đảo Phú Quốc được quy hoạch là đảo du lịch, lượng khách trong và ngoài nước đến với huyện đảo này ngày càng đông, giá cả sinh hoạt, tiêu dùng tăng đến chóng mặt. Cơm bụi tại quán cóc buổi trưa giá 35.000 đồng/dĩa.
Một dĩa cơm chiên thịt ghẹ ở quán ăn bình dân buổi tối giá 150.000 đồng, cơm thêm (không thức ăn) cũng phải 20.000 đồng/dĩa. Ghẹ mua tại chợ đêm Dinh Cậu những 300.000 đồng/kg- đắt gấp 3 lần so với giá tại chợ Hà Tiên. Phòng trọ bình dân 2 giường 1 triệu đồng/đêm- gấp 4 lần giá phòng cùng loại trong đất liền. Còn giá đất đai thì nghe đâu mỗi mét ngang ở bất cứ vị trí nào trên đảo cũng phải tính bằng đơn vị tỷ đồng.
Phải nói rằng, ngày nay Phú Quốc đã thay da, đổi thịt; khác rất xa, xa lắm so với 40 năm trước khi tôi đến đây lần đầu tiên. Điều còn lại nguyên vẹn của ngày xưa ấy chắc chỉ có những ngọn núi thuộc dãy Hàm Ninh trong lâm viên quốc gia trên đảo- nơi được bảo vệ rất tốt.
KHẮC LUÂN

