Âm vang chiến thắng Tua Hai

Cập nhật ngày: 21/01/2015 - 06:19

Sinh hoạt Đoàn tại di tích chiến thắng Tua Hai.

Thế trận xuất kỳ lấy yếu đánh mạnh

Dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều

Nguyễn Trãi- Bình Ngô đại cáo

Tua Hai- Phát pháo hiệu của đồng khởi Nam bộ. Tiêu đề này cũng là nhan đề bài tham luận của Đại tướng Mai Chí Thọ, nguyên xứ uỷ viên Xứ uỷ Nam bộ, chính trị viên các lực lượng đánh Tua Hai trong hội thảo về “Chiến thắng Tua Hai và phong trào đồng khởi ở miền Đông Nam bộ” được tổ chức tại Tây Ninh vào cuối năm 1999, do Tỉnh uỷ Tây Ninh và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đồng tổ chức.

Nhiều người đã biết về chiến thắng trên. Vậy nên chỉ xin tóm tắt lại như trong bài phát biểu khai mạc của bà Nguyễn Thị Minh- Bí thư Tỉnh uỷ khi ấy: “0 giờ 30 phút ngày 26.1.1960, trận đánh Tua Hai bắt đầu. Lực lượng tham gia trận đánh gồm các đơn vị (của lực lượng vũ trang miền Đông Nam bộ) đã được xây dựng và tập hợp lại sau hội nghị ở Bàu Rã (29.3.1959), một số đơn vị đã tham gia trận đánh Dầu Tiếng (8.1958) như: đại đội 60, đại đội 70, đại đội 80, đặc công, một trung đội Bình Xuyên (chiến khu D) và một trung đội “Cao Đài ly khai”. Tỉnh Tây Ninh huy động 300 cán bộ, đảng viên, quần chúng trung kiên làm nhiệm vụ dân công hoả tuyến.

Sau vài giờ chiến đấu, ta hoàn toàn chiếm lĩnh và làm chủ trận địa. Lực lượng dân công vào mang vác súng đạn ai cũng đem hết sức mình để mang được nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm ra vùng cách mạng.

3 giờ 30 phút ngày 26.1.1960, quân ta rút khởi căn cứ Tua Hai. Ta đã tiêu diệt sở chỉ huy trung đoàn 32 thuộc sư 21, diệt và làm tan rã hai tiểu đoàn 1 và 2, tiêu hao tiểu đoàn 3 của địch. Ta bắt và thả ngay tại trận 500 tù binh, thu 1.500 súng các loại…”.

Nhiều nghiên cứu, tham luận khác trong hội thảo 1999 đã khẳng định giá trị to lớn của chiến thắng Tua Hai.

Người ngoài ngành quân sự như giáo sư Kiều Xuân Bá- Bộ Giáo dục - Đào tạo cho rằng: “Đây là tiếng súng lệnh của xứ uỷ Nam bộ phát lên, chính thức phát động phong trào nổi dậy và tiến công của đồng bào và các lực lượng vũ trang cách mạng trong toàn miền, mở đầu trên thực tế cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam…” và “đi vào lịch sử như một chiến công quân sự và chính trị sáng chói của cách mạng miền Nam lúc mới chuyển mình…”. Nhà nghiên cứu, nhà văn Trần Bạch Đằng lại viết: “Trong lịch sử kháng chiến miền Nam, có nhiều chiến dịch, trận đánh quy mô hơn trận Tua Hai gấp chục, gấp trăm, gấp ngàn lần nhưng trong lý lịch của chiến công thì chiến thắng Tua Hai vẫn là bà đỡ xứng đánh được nhớ ơn- một trận đánh khai sinh… Tua Hai đã đi vào lịch sử một cách hiên ngang như thế”.

Có một báo cáo của một người còn chưa được chú ý về tên tuổi- là Trung tá tiến sĩ Đinh Thu Xuân của Quân khu 7. Nhưng nay đọc lại, mới thấy chị đã kỳ công rút tỉa cụ thể các hệ quả của chiến thắng Tua Hai, có so sánh với đồng khởi Bến Tre ngày 17.1.1960. Đó là bài “Hệ quả hai chiều của trận đánh Tua Hai”, trong đó có đoạn: “Bùng cháy trước trận Tua Hai tám ngày, ngọn lửa Bến Tre toả sáng khắp 72 làng xã miền Tây Nam bộ. Nay thêm Tua Hai của miền Đông Nam bộ cộng hưởng, góp gió thổi bùng lên ngọn lửa “đồng khởi” bốc cao, cuốn nhanh, lan toả đi xa, hoà nhịp với 800 xã miền Trung, miền Tây Nam bộ nổi dậy võ trang tiến công…”. Chị cũng đã đúc kết: “Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 1960, hai phần ba số xã của Tây Ninh được giải phóng, tạo thế liên hoàn cho chiến khu A của miền Đông và căn cứ đầu não kháng chiến của Miền được mở rộng, nối dài, vươn xa…”.

Người trong cuộc, Đại tướng Mai Chí Thọ viết rằng: “Đây là phát pháo hiệu sáng ngời, vang dội của Nghị quyết 15, của Đồng Khởi đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử chống Mỹ và bè lũ tay sai của cách mạng…”.

Nhìn nhận lại, giờ đây càng thấy rõ giá trị lịch sử của chiến thắng Tua Hai. Có phải có những nguyên nhân sâu xa hơn, từ lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc suốt trong chiều dài mấy nghìn năm? Đối chiếu với cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi mà trong bài cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi có câu: “Thế trận xuất kỳ lấy yếu thắng mạnh/ Dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều” thì quả là cũng đúng.

Tham gia trận Tua Hai, quân ta chỉ có 225 chiến sĩ và 300 dân công; trong khi địch là một trung đoàn với quân số 1.694 tên lại được trang bị vũ khí hiện đại của Mỹ. Nhưng đã có một “thế trận xuất kỳ” vào đêm 27 rạng ngày 28 tết khi lực lượng địch đã phân tán một phần, lực lượng còn lại lơ là cảnh giác. Đây là cơ hội tuyệt vời cho việc “dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều” nhất là lực lượng ấy đã “mai phục” khá lâu, chịu biết bao nỗi thống khổ đau thương bởi các sách lược “diệt cộng, tố cộng” của Mỹ, Diệm trong cuộc chiến tranh một phía suốt sáu năm từ 1954.

 “Tua Hai đã đi vào lịch sử một cách hiên ngang như thế!” xin được nhắc lại câu viết của nhà nghiên cứu, nhà văn Trần Bạch Đằng về chiến thắng Tua Hai. Bộ sách rất dày dặn gồm 9 tập “lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975”, tại tập II: Chuyển chiến lược (từ trang 325 - 333) đã trân trọng mô tả đầy đủ về chiến thắng Tua Hai cùng các hệ quả của nó với toàn miền. Đây quả thật là những trang sử vàng, không chỉ với vùng đất Tây Ninh, mà cả nước!

15 năm sau, lịch sử lại được lặp lại trên núi Bà Đen. Đó là chiến thắng núi Bà ngày 7.1.1975, sau 31 ngày quân ta bao vây, tấn công chiếm trọn căn cứ truyền tin lớn nhất miền Nam của quân đội Sài Gòn. Cùng với chiến thắng Phước Long, đây cũng là chiến thắng dự báo sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn chỉ 3 tháng 23 ngày sau đó. Vì những lý do nào đó mà hiện nay chiến thắng quan trọng này mới chỉ được nhắc đến rất sơ sài. Khi tập hợp đủ tư liệu, xin được trình bày rõ hơn vào một bài báo khác.

TRẦN VŨ