Pháp luật   Tư vấn pháp luật

Trả lời bà Lương Thị Cu (thị xã Trảng Bàng):

Bà có thể đại diện con khởi kiện chia thừa kế di sản

Cập nhật ngày: 08/08/2020 - 07:36

BTN - Một vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất (QSDĐ) đã được các cấp toà án giải quyết rõ ràng, dứt điểm. Thế nhưng, nguyên đơn và cũng chính là người thua kiện vẫn không ngừng gửi đơn đến nhiều cơ quan, yêu cầu tiếp tục giải quyết.

ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC...

Bà Lương Thị Cu (SN 1962, ngụ khu phố An Khương, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng) gửi đơn đến Báo Tây Ninh trình bày: Chồng bà là ông Thân Thành Liêm (đã qua đời vào năm 2009). Bà Cu và ông Liêm có một con chung tên Thân Minh Khiết. Ông Thân Thành Bông là anh chồng bà Cu, hiện ngụ khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng. Trước đây, ông Bông có mượn một phần đất diện tích 1.788,1m2 của vợ chồng bà Cu tại địa chỉ vừa nêu để trồng cỏ nuôi bò.

Cũng theo đơn của bà Cu, sau khi ông Liêm mất, ông Bông giữ hết giấy tờ về quyền sử dụng phần đất trên, âm thầm giả mạo chữ ký của bà Cu và ông Liêm để lập hợp đồng tặng cho QSDĐ từ ông Liêm sang ông Bông, nhằm chiếm đoạt phần bất động sản này. Bà Cu cho rằng, bà chưa từng cùng chồng ký các loại giấy tờ liên quan đến việc tặng cho QSDĐ, vì sao hợp đồng này vẫn được công chứng? Nguyện vọng của bà Cu là lấy lại tài sản của chồng để nuôi con ăn học.

Đó là nội dung chính trong đơn của bà Cu. Tuy nhiên, qua quá trình xác minh vụ việc, thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, chúng tôi nhận thấy những thắc mắc của bà Cu đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết rõ ràng, dứt điểm. Cụ thể, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22 ngày 28.1.2011 của TAND huyện Trảng Bàng đã tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu của bà Cu đòi ông Bông, bà Nguyễn Kim Lâm (vợ ông Bông) phải giao lại cho bà Cu và Thân Minh Khiết được sử dụng phần đất diện tích 1.788,1m2...”.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 90 ngày 5.4.2011 của TAND tỉnh về việc “tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ”, ông Bông trình bày, ngày 5.12.2007, ông Liêm đã lập hợp đồng tặng cho ông Bông QSDĐ nêu trên. Thế nhưng, sự thật là ông Liêm đã chuyển nhượng phần đất diện tích 1.788,1m2 cho vợ chồng ông Bông với giá 120 triệu đồng.

Bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền. Mục đích của việc lập hợp đồng tặng cho nhằm “tránh” nộp thuế trong vụ mua bán phần đất này. Sau đó, vợ chồng ông Bông thực hiện thủ tục đăng ký, kê khai và đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy, ông Bông, bà Lâm không đồng ý trả lại phần đất theo yêu cầu khởi kiện của bà Cu.

TAND tỉnh xét thấy, phần đất diện tích 1.788,1m2 có nguồn gốc là của ông Rau, bà Hạnh (cha, mẹ của ông Liêm). Sau khi ông Rau và bà Hạnh qua đời, năm 2000, ông Liêm làm thủ tục thừa kế toàn bộ diện tích đất này, nộp hồ sơ kê khai đăng ký.

Đến năm 2005, ông Liêm được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Cũng trong năm 2005, ông Liêm kết hôn với bà Lương Thị Cu. Năm 2007, ông Liêm lập hợp đồng tặng cho ông Bông QSDĐ. Thực tế, theo như các bên thừa nhận là chuyển nhượng QSDĐ. Căn cứ khoản 1, Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình thì phần đất trên là tài sản riêng của ông Liêm (tài sản do ông Liêm được thừa kế trước khi kết hôn với bà Cu).

Ngoài ra, trong quá trình chung sống với bà Cu, ông Liêm không nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng nên căn cứ theo khoản 1, Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 13 Nghị định số 70 ngày 3.10.2001 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Hôn nhân và Gia đình thì ông Liêm được quyền chuyển nhượng, tặng cho QSDĐ của mình cho ông Bông mà không cần phải có sự đồng ý của bà Cu.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà Cu yêu cầu giám định chữ ký của bà trong đơn xác nhận tài sản riêng của ông Bông. Tuy nhiên, như TAND tỉnh đã phân tích, việc bà Cu có đồng ý hay không vẫn không ảnh hưởng đến hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Liêm và ông Bông, hợp đồng này là hợp pháp.

Mặt khác, ngày 27.11.2007, ông Bông thực hiện kê khai, đăng ký và đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Ông Bông sử dụng đất ổn định từ năm 2007 đến nay. Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Liêm và ông Bông đã hoàn thành.

Do đó, bà Cu kháng cáo yêu cầu ông Bông phải trả lại toàn bộ diện tích đất như trên là không có cơ sở chấp nhận. Toà án cấp phúc thẩm tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bà Cu, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

TOÀ ÁN TỐI CAO ĐÃ GIẢI QUYẾT

Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, bà Cu tiếp tục gửi đơn đến TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh với đề nghị cơ quan này kháng nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án TAND tỉnh. Ngày 28.2.2014, TAND tối cao có Thông báo số 171 cho biết, phần đất diện tích 1.788,1m2 là tài sản riêng của ông Liêm.

Mặc dù ông Liêm chuyển nhượng đất cho ông Bông, nhưng hai ông đã lập thủ tục tặng cho QSDĐ và được UBND thị trấn Trảng Bàng ký chứng thực vào ngày 5.12.2007. Đến ngày 18.12.2007, ông Bông được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do đó, hợp đồng tặng cho giữa ông Liêm với ông Bông là hợp pháp.

 “Vì những lý do trên, TAND tối cao nhận thấy không có căn cứ để kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 90 ngày 5.4.2011 của TAND tỉnh Tây Ninh theo thủ tục giám đốc thẩm. Bà Lương Thị Cu có quyền đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên là cháu Thân Minh Khiết, để khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản ông Thân Thành Liêm được hưởng của cha mẹ (cụ Rau, cụ Hạnh) đã chết để lại bằng một vụ án khác, nếu bà Cu có yêu cầu”- Thông báo của TAND tối cao nêu rõ (vào thời điểm năm 2014).

Tháng 10.2019, bà  Cu lại nộp đơn khởi kiện ông Bông và bà Lâm với yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm huỷ hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Liêm và ông Bông. Ngày 11.3.2020, TAND thị xã Trảng Bàng ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do, sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.

Bà Cu đã nộp đơn kháng cáo Quyết định của TAND thị xã Trảng Bàng. Ngày 21.5.2020, TAND tỉnh ban hành quyết định giải quyết kháng cáo của bà Cu nêu rõ: bản án phúc thẩm đã tuyên y án sơ thẩm, bà Cu tiếp tục khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, TAND tối cao đã có thông báo giải quyết đơn đề nghị kháng nghị của bà Cu như trên đã nêu.

Do đó, việc bà khởi kiện vợ chồng ông Bông với yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Liêm và ông Bông đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nên TAND thị xã Trảng Bàng ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

MINH QUỐC