Điểm số

Cập nhật ngày: 21/07/2014 - 06:06

Học phí cho một học kỳ tôi đã trả. Tiền trọ một tháng ở ký túc xá cũng đã trả. Mọi thứ còn lại tôi phải tự lo tiếp. Bố mẹ nghèo túng không thể “cứu trợ” tôi.

Tôi đã tự lập ngay từ lúc 15 tuổi. Hồi đó, mỗi trưa đã phải rời lớp để về trông trẻ cho đến tận nửa đêm. Suốt những năm trung học và năm đầu ở đại học, tôi luôn ước mong mình được tham dự những hoạt động ngoại khoá, nhưng công việc làm thêm không cho phép. Bây giờ, khi được chuyển về Berkeley, tôi hy vọng mình sẽ kiếm được một học bổng, để giải thoát khỏi những việc làm thêm này.

Tuần đầu tiên, tôi tìm được chân chạy bàn, trông trẻ và rửa chén. Như vậy đỡ được phần nào tiền trọ của tôi. Cuối học kỳ, tôi đạt điểm B cần thiết để tiến hành xin học bổng. Lúc này tôi chỉ cần đạt thêm một điểm B vào kỳ thi tới nữa là đủ.

Tôi không muốn đến Berkeley để học những lớp học vớ vẩn. Tôi đến đây là để học được môn gì đó đáng giá. Tôi tin là mình có thể hơn người trong những môn học khó. Và tôi chọn cho mình một môn thật hóc búa. Đó là nghiên cứu về văn học.

Bộ môn này do giáo sư Sears Jayne phụ trách. Ông thường đi đi lại lại trên bục giảng của giảng đường mênh mông, tay vung vẩy cái micro trong lúc giảng bài cho một rừng sinh viên ngồi chật ních các hàng ghế. Không có chép bài ở đây. Thay vào đó, chúng tôi dùng sách, loại sách bìa mỏng, ít tốn và dễ mua.

Tôi rất hâm mộ những quan điểm mà giáo sư trình bày. Với nhiều sinh viên, môn học này chỉ là một môn học bắt buộc, nhưng với tôi, mỗi buổi học quả thật là một bữa tiệc với đầy những món ăn là những ý tưởng kỳ thú. Các bạn ở trong ký túc xá cũng tham dự lớp học và đề nghị tôi giúp đỡ. Chúng tôi lập thành một nhóm học tập mà tôi làm trưởng nhóm.

Khi tôi làm bài thi đầu tiên của môn này - một bài thi với rất nhiều câu hỏi - tôi nghĩ rằng mình đã làm bài rất tốt. Vậy mà khi nhận lại tập bài thi của mình, tôi thật không thể tin nổi: chỉ có 77 điểm và C “cộng”. Tôi thật sự bị sốc, vì văn chương là môn học giỏi nhất của tôi. Đã buồn khổ, tôi còn cảm thấy nhục nhã hơn, khi các bạn trong nhóm học tập của tôi - các “đệ tử” của tôi đều nhận được điểm B. Họ đến và cảm ơn tôi vì đã hướng dẫn họ!

Tôi gặp người trợ giảng. Người này dẫn tôi đến gặp giáo sư Jayne. Ông lắng nghe những lời tranh cãi hăng hái của tôi, nhưng quyết định của ông vẫn không chuyển.

Trước kia, tôi chưa bao giờ hỏi giáo viên về điểm số của mình. Chưa bao giờ. Lúc này, tôi có hỏi thì cũng không phải là để xin xỏ cho học bổng. Mà đơn giản, tôi chỉ muốn công bằng, chứ không phải lòng thương hại. Trong lòng, tôi luôn tin rằng những câu trả lời trong bài làm của mình xứng đáng được điểm cao hơn.

Tôi quyết tâm làm việc nhiều hơn, mặc dầu tôi không biết như thế thì có ý nghĩa gì, vì bài vở ở trường bao lâu nay đối với tôi đã quá dễ, không có gì phải cố gắng. Tôi vẫn kiên trì tìm kiếm các việc làm thêm hoặc chùi rửa sàn. Tôi đọc sách kỹ càng hơn. Nhưng mọi nỗ lực của tôi một lần nữa lại chỉ được đền đáp bằng con số 77. Một lần nữa, lại C “cộng” cho tôi và B và A cho các bạn cùng nhóm. Và họ lại cảm ơn tôi. Một lần nữa, tôi trở lại gặp giáo sự Jayne và chất vấn về tính công bằng của ông khi chấm bài. Một lần nữa, giáo sư lắng nghe kiên nhẫn, thảo luận các đề tài với tôi, nhưng sau đó vẫn không đổi, tôi vẫn bị điểm C. Giáo sư dường như thích thú những nhận xét của tôi về ý tưởng của ông trong bài giảng, nhưng giấc mơ của tôi về học bổng và những hoạt động ngoại khoá tiêu tan dần.

Rồi một bài kiểm tra nữa trước khi bước vào kỳ thi cuối – một cơ hội nữa cho tôi “rửa hận”. Nhưng đó cũng có thể là một rào cản mơ hồ không biết chừng. Lần này, chúng tôi sẽ làm bài trên tác phẩm vừa học của T.S.Eliot, The Wasteland. Quyển sách chỉ có ở dạng bìa cứng và với ngân sách nhỏ bé của tôi thì quả là đắt.

Tôi mượn sách từ thư viện. Tuy nhiên, tôi biết mình cũng cần phải có một cuốn riêng để chú giải, ghi chép vào. Năm 1951 chưa có máy photocopy, cho nên tôi chọn giải pháp hợp lý nhất là lôi cái máy đánh chữ Royal cổ lỗ trung thành của mình ra và bắt đầu đánh máy hết 420 trang. Vừa chạy bàn, vừa rửa chén, vừa dự lớp, vừa trông trẻ, vừa hướng dẫn nhóm học tập, tôi vừa xoay sở để ngốn hết chừng đó trang sách…

Tôi đã nỗ lực gấp đôi cho bài kiểm tra thứ ba này. Lần đầu tiên, tôi học được nghĩa của từ “hoàn hảo”. Nhưng nỗ lực của tôi dù cao mấy vẫn đem lại kết quả hoàn toàn không tốt. Mọi thứ vẫn như cũ, vẫn là 77 điểm và C “cộng”. Tôi đi thẳng tới phòng giáo sư Jayne, lôi tất cả bài làm trước nay của mình ra, và chất vấn về điểm số. Nhìn thấy xấp đánh máy của cuốn The Wasterland, giáo sư hỏi: “Cái gì kia?”.

“Em không có tiền để mua sách, nên em phải đánh máy lại”. Tôi không nghĩ chuyện đó có gì bất bình thường. Bởi vì tính tôi là thế, không bao giờ để cái khó bó cái khôn.

Nhưng trên nét mặt vui vẻ của giáo sư Jayne có cái gì đó thay đổi. Ông im lặng một lúc lâu. Rồi chúng tôi quay lại đề tài tranh cãi muôn thuở đầy hào hứng là các nhà văn thực sự nói gì trong các tác phẩm. Khi rời văn phòng của giáo sư, tôi vẫn chỉ có điểm số 77 – có lẽ đó là con số “xui” của tôi, và nỗi nhục rằng một trưởng nhóm thảo luận, người hướng dẫn nhóm học tập như mình mà cuối cùng lại lẹt đẹt thua xa những sinh viên đang chịu ơn mình.

Cuối cùng, kỳ thi lớn. Tôi biết, bây giờ cho dù tôi có nỗ lực đến mấy thì ba điểm C “cộng” kia vẫn không thể nào xoá đi được. Tôi nghĩ, chắc mình hôn tạm biệt vụ xin học bổng đi là vừa. Và, có ích gì đâu, tôi đã nhồi nhét đến toét cả mắt, mà cuối cùng cũng đành qui hàng con số 77.

Tôi không học bài nữa. Tôi cảm thấy mình thuộc các tác phẩm như chưa bao giờ thuộc như vậy. Chẳng phải là tôi đã đọc đi đọc lại những quyển sách đó và cắt nghĩa cho các bạn của tôi sao? Chẳng phải là những câu chữ của The Wasterland vẫn còn ong ong trong đầu tôi à? Cho nên đêm trước ngày thi, tôi tự thưởng cho mình một vé xem phim.

Tôi thong thả bước vào giảng đường và quyết định rằng đây chính là dịp để mình biến cuộc thi thành một trò giải trí. Tôi giam các nhà văn mà chúng tôi đã được học qua trên một hòn đảo và viết lên giấy một cuộc tranh cãi tưởng tượng giữa họ với nhau về vị trí của mình. Việc làm có vẻ điên khùng này thật thích hợp với tâm trạng “không có gì để mất” của tôi lúc đó. Những dòng chữ tuôn chảy, và chính những gì tôi đã tranh luận với giáo sư Jayne đã khiến cho bài viết được viết ra dễ dàng.

Một tuần sau tôi đi chơi ngang văn phòng, tiện tay vào lục trong xấp bài thi tìm bài của mình. Và thật không tin nổi vào mắt nữa: trên quyển bài thi bìa xanh của tôi là màu mực chấm thi đỏ chói – tôi đã đạt điểm A!

Tôi vội vã chạy tới phòng giáo sư Jayne. Ông dường như đang đợi tôi mặc dù không có hẹn trước đó. Tôi ngay lập tức công kích ông với một sự phẫn nộ thẳng thắn. Tại sao tôi lại chỉ nhận C “cộng” mỗi lần học bài đầu tắt mặt tối, và bây giờ, khi viết một bài thi đùa bỡn thì lại được điểm A?

“Tôi biết nếu tôi cho em những điểm A mà em hoàn toàn xứng đáng đó, em sẽ không tiếp tục làm việc cật lực nữa”.

Tôi nhìn giáo sư không chớp mắt, nhận ra rằng sự phân tích và chiến lược của ông hoàn toàn đúng. Quả thực tôi đã làm việc đến nổ tung cái đầu – một việc trước nay tôi chưa bao giờ làm.

Giáo sư đứng dậy và lấy ra từ trên giá sách chật cứng một cuốn sách.
“Của em!”

Đó là một cuốn The Wasterland, bản bằng bì cứng. Ở trang lót là dòng chữ đề tặng tôi. Lần đầu tiên trong cuộc đời “lắm mồm” của tôi, tôi không thốt nên lời.

Tôi lại không thốt nên lời một lần nữa khi điểm số của toàn khoá học của tôi được công bố: đó là A “cộng”. Tôi tin rằng đó mới chính là con A “cộng” trời cho.

Một năm sau, khi đã nhận được học bổng, tôi mới có thể tham gia các hoạt động ngoại khoá:

Tôi tham gia viết, rồi diễn, hát, nhảy múa trong một vở nhạc kịch vui nhộn độc đáo do Hội Sinh viên dàn dựng. Vở kịch được diễn nhiều lần, có khi trong một nhà hát thuộc loại lớn nhất; có lúc trong những căn nhà mà khán giả chỉ có thể đứng coi.

Tôi viết phê bình sân khấu cho tờ Daily Cat – một tờ báo ngày của sinh viên. Tôi viết kịch một màn – một trong những vở kịch đầu tiên của nhà hát thuộc trường đại học. Tôi diễn trong những vở kịch của khoa kịch nghệ dàn dựng.

Những tia lửa sáng tạo được hun đúc từ những chồng đĩa tôi rửa, từ những đống tả tôi giặt, từ những công việc cực nhọc… đã bừng cháy lên. Tôi không còn nhớ nhiều những gì mình đã học ở trường vào những năm xa xưa ấy, nhưng tôi không bao giờ quên niềm vui khi viết và khi diễn kịch.

Và tôi luôn nhớ đến bài học của giáo sư Jayne: Hãy biết rằng bạn vẫn còn chưa khui hết năng lực ở trong bạn. Rằng bạn phải dùng chúng ngay cả khi bạn có được chúng mà không cần phải nỗ lực. Rằng chính bạn, và chỉ có bạn mới định được một tiêu chuẩn thế nào là xuất sắc cho mình.

Theo dayhocintel