Hani

Cập nhật ngày: 22/07/2014 - 10:13

Học phí của trường rất cao và học trò người Indonesia không thể theo học nổi. Hani bước đến chỗ tôi và hỏi tôi liệu có thể giúp cô học tiếng Anh không. Lúc đó, tôi đã có ấn tượng mạnh về một cô bé ăn mặc rách rưới, dám can đảm đến cạnh tôi và đề nghị tôi giúp đỡ.

“Sao em lại muốn tôi giúp môn tiếng Anh?” tôi hỏi cô bé, nghĩ rằng câu trả lời sẽ là: “Vì em muốn kiếm một việc làm trong khách sạn quanh đây”.

Nhưng cô bé đáp, đầy tự tin: “Em muốn được học ở một trường đại học của Mỹ”. Giấc mơ hão huyền này của cô bé làm tôi muốn khóc.

Tôi đồng ý giúp Hani mỗi ngày, sau buổi học, trên căn bản những bài em đã học ở lớp. Vài tháng sau, mỗi buổi sáng Hani dậy từ 5 giờ sáng, đón xe bus để đến trường trung học công lập. Trên chuyến xe dài một giờ đồng hồ ấy, em học bài ở lớp và chuẩn bị bài tiếng Anh mà tôi đã cho em hôm trước. Rồi vào bốn giờ chiều, em đến lớp của tôi, rất mệt nhưng vẫn luôn sẵn sàng làm việc. Ngày tháng trôi qua, đến khi Hani bắt đầu “đánh vật” với tiếng Anh ở cấp đại học, thì tôi càng quí mến em hơn. Em học chăm hơn hầu hết các sinh viên ngoại quốc đồng hương giàu có của tôi.

Hani sống trong căn nhà có hai phòng với cha mẹ và hai anh trai. Cha em làm thợ xây dựng còn mẹ em làm nghề giúp việc. Khi tới thăm họ, tôi biết mỗi năm thu nhập tổng cộng của cả gia đình chỉ có 750 đô la. Số tiền đó thì để chi cho một tháng trong trường đại học của Mỹ cũng không đủ. Lòng nhiệt tình của Hani cũng như khả năng học ngoại ngữ của em ngày càng cao, trong khi đó, tôi ngày càng nản chí.

Một buổi sáng tháng 12 năm 1998, tôi nhận được thông báo về chương trình học bổng của một trường đại học lớn tại Mỹ. Tôi hào hứng mở phong bì và xem xét các yêu cầu của họ, nhưng ngay lập tức tôi thất vọng buông bộ đơn xuống. Chẳng có lối nào cho Hani cả, tôi nghĩ, cô bé không cách gì đáp ứng nổi các điều kiện người ta đề ra. Cô chưa bao giờ nằm trong ban tổ chức của một câu lạc bộ, chưa bao giờ tham gia một tổ chức nào của học sinh, bởi đơn giản, những loại hình sinh hoạt đó không tồn tại trong ngôi trường nghèo của cô bé. Hani cũng không có người tư vấn, cũng chưa bao giờ đi thi một kỳ thi nào để mà đạt điểm cao, bởi vì, những cuộc thi như thế chưa bao giờ dành cho học trò nghèo như cô.

Tuy nhiên, Hani có ý chí nhiều hơn bất cứ một sinh viên nào tôi đã từng gặp. Khi Hani đến lớp ngày hôm đó, tôi nói với em về chương trình xin học bổng. Tôi cũng nói với em rằng, nên thực tế hơn về tương lai và không nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào việc đến Mỹ học. Sau một bài thuyết giảng dài như thế, vậy mà Hani vẫn không dao động. Cô bé hỏi tôi:

“Em gửi tên em nhé?”

Tôi không dám làm em buồn. Tôi giúp em hoàn tất lá đơn, thú nhận vào mỗi khoảng trống trong đơn một sự thật đau buồn về đời sống đi học của em, nhưng cũng kèm theo đó là niềm tự hào về sự dũng cảm cũng như lòng kiên trì của Hani. Tôi dán phong thư lại và nói với Hani rằng cơ hội để được người ta chấp nhận là nằm trong khoảng từ “không” đến “tí ti”.

Trong những tuần sau, Hani càng chăm học tiếng Anh hơn, và tôi thu xếp để em có thể tham dự kỳ thi tiếng Anh ở Jakarta. Bài thi hoàn toàn làm trên máy vi tính chắc chắn sẽ là một thách thức lớn cho những ai chưa bao giờ động đến bàn phím. Trong hai tuần chúng tôi học sử dụng máy vi tính. Rồi, ngay trước khi Hani khởi hành đi Jakarta, cô bé nhận được lá thư từ quỹ học bổng. Thời khắc tàn nhẫn đến rồi đây, tôi nghĩ. Cố hết sức để không làm em thất vọng, tôi mở lá thư và bắt đầu đọc cho em. Em đã được quỹ chấp thuận.

Tôi chạy ra khỏi phòng và bị sốc thực sự. Hani vẫn đứng đó, mỉm cười lặng lẽ nhưng chắc chắn rất bối rối trước phản ứng bất ngờ của tôi. Trong những tuần sau đó, hình ảnh của Hani vào giây phút đó trở đi trở lại trong đầu tôi. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng chính tôi mới là người học được cái điều mà Hani đã biết ngay từ đầu.

Chỉ thông minh không thôi chưa mang lại thành công, mà phải có cả lòng thôi thúc muốn thành công, sự nhiệt tình trong công việc, lòng can đảm, và niềm tin vào chính bản thân.

Theo dayhocintel