Pháp luật   Bạn đọc

BAOTAYNINH.VN trên Google News

Khổ vì nhờ người khác đứng tên giấy đỏ

Cập nhật ngày: 08/08/2015 - 04:25

Do có lần trả tiền vay ngân hàng trễ hẹn, nên vợ chồng ông Nguyễn Văn Nghê bị đưa vào diện khách hàng nợ xấu không được vay tiếp.

Trong lúc cần đồng vốn để vay tiền làm ăn, vợ chồng ông Nghê đề nghị vợ chồng bà N đứng tên “giùm” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) để vay tiền ngân hàng giúp vợ chồng ông.

Thế nhưng, từ khi sang tên giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng bà N (năm 2008) đến nay, tiền vay ngân hàng chẳng thấy đâu mà vợ chồng ông Nghê còn phải khổ sở đi kiện để đòi lại QSDĐ...

Một phần đất mà ông Nghê nhờ vợ chồng bà N đứng tên QSDĐ “giùm” để vay vốn ngân hàng.

Trong đơn ông Nghê trình bày, vào năm 2006 do thiếu nợ ngân hàng mà trả trễ hẹn nên ngân hàng không giải quyết cho ông vay tiền nữa. Được sự giới thiệu của người quen, ông gặp vợ chồng bà N nhờ vay tiền giùm. Bà N cũng hứa là sau khi sang tên QSDĐ, nếu một tháng sau không vay được thì sẽ sang tên lại cho ông Nghê.

Do quá cần vốn, ông Nghê làm thủ tục sang tên 2 phần đất toạ lạc tại xã Ninh Điền cho bà N với diện tích khoảng 4 ha vào ngày 27.11.2008.

Một ngày sau, vợ chồng bà N viết một tờ giấy tay cho ông Nghê để làm “tin”, nội dung là: Có đứng tên QSDĐ của vợ chồng ông Nghê với diện tích gần 4 ha, với hình thức sang nhượng cho cháu vay tiền ngân hàng giùm. Bà N cũng cam kết sau này vợ chồng ông Nghê có yêu cầu thì vợ chồng bà sang tên trả lại diện tích nói trên.

Tuy nhiên, sau khi vợ chồng ông Nghê sang tên QSDĐ cho vợ chồng bà N thì ông Nghê chẳng thấy bà N vay tiền giùm như đã cam kết.

Đến năm 2009, bà N gặp vợ chồng ông Nghê đề nghị bán 1,5 ha đất ở Bàu Cối với giá 300 triệu đồng, trừ số tiền ông nợ là 63 triệu đồng, còn lại 237 triệu đồng. Bà N hứa khoảng 10 ngày sau sẽ trả 37 triệu đồng, còn 200 triệu đồng tháng sau trả dứt. Thế nhưng sau đó bà N không trả.

Năm 2010, bà N thông báo với ông Nghê là sẽ kêu người khác bán đất để trả nợ ông Nghê. Vài ngày sau, có người được bà N giới thiệu đến xem đất để mua, nhưng sau khi biết được nguồn gốc phần đất thì quyết định không mua. Ông Nghê yêu cầu bà N trả lại giấy chứng nhận QSDĐ và ông Nghê trả tiền nợ lại cho bà N, hai bên không mua bán đất gì nữa. Bà N không trả lời.

Đến năm 2011, lại có một người khác đến nhà ông Nghê nói rằng đã mua hết toàn bộ đất của ông do bà N bán. Tuy nhiên sau khi nghe ông N kể rõ sự tình, người này đã ra về. Tìm hiểu, ông Nghê biết bà N thế giấy chứng nhận QSDĐ cho người đàn ông đó.

Gặp ông Nghê, bà N hứa sẽ chuộc giấy đất về và làm thủ tục sang tên trả lại cho ông Nghê, nhưng cũng không thực hiện. Năm 2012, có một người đàn ông liên hệ với UBND xã Ninh Điền yêu cầu ông Nghê giao giấy đất với lý do đã mua phần đất trên.

 Thấy bà N có dấu hiệu “qua mặt” mình, vợ chồng ông Nghê làm đơn gửi đến các cơ quan chức năng để nhờ can thiệp, giải quyết buộc vợ chồng bà N phải sang tên trả lại QSDĐ hai phần đất trên.

Tháng 6.2014, UBND xã Ninh Điền mời hai bên đến để hoà giải 3 lần, nhưng vợ chồng bà N không đến. Vì thế vào ngày 7.7.2014, UBND xã Ninh Điền có văn bản đề xuất xử lý đơn gửi TAND huyện Châu Thành tiếp tục xem xét giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghê theo thẩm quyền.

Trước đó, vào tháng 12.2012, Văn phòng Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh có phiếu báo tin cho ông Nghê là đã chuyển đơn của ông đến Trưởng Công an huyện Châu Thành để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Sau đó, Công an huyện Châu Thành có mời ông đến làm việc và ngày 13.5.2015, Công an huyện cũng chuyển đơn của ông Nghê đến TAND huyện Châu Thành giải quyết theo thẩm quyền.

Tháng 10.2014, TAND huyện Châu Thành tiến hành thụ lý vụ ông Nghê khởi kiện vợ chồng bà N. Theo ông Nghê, TAND huyện Châu Thành đã mời vợ chồng bà N nhiều lần đến toà để giải quyết, nhưng vợ chồng bà cố tình vắng mặt.

Đến ngày 13.2.2015, TAND huyện Châu Thành ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử với lý do xét thấy vụ án có tính chất phức tạp. Đến nay vụ án vẫn chưa được đưa ra xét xử. Vợ chồng ông rất nóng lòng chờ đợi kết quả giải quyết vụ án để có lại giấy chứng nhận QSDĐ đối với 2 phần đất đã “trót dại” sang cho vợ chồng bà N đứng tên giùm.

Giấy cam kết đứng tên “giùm” QSDĐ để vay vốn ngân hàng do vợ chồng bà N lập vào năm 2008.

Nhiều người cho rằng, chính ông Nghê đã tự đưa mình vào hoàn cảnh khó khăn như ngày hôm nay do quá tin vào vợ chồng bà N, sang tên giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng bà N đứng tên vay vốn ngân hàng “giùm”.

Qua vụ việc này cho thấy, nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân- nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều hạn chế.

Để hạn chế những rắc rối không đáng có trong nội bộ nhân dân, các ngành chức năng cần tăng cường tuyên truyền sâu rộng những nội dung pháp luật liên quan mật thiết đến đời sống người dân, để họ thận trọng hơn khi tiến hành các giao dịch dân sự trong cuộc sống hằng ngày. Có như thế thì những vụ việc người dân kiện tụng như trên sẽ được giảm đáng kể.

THẾ NHÂN