Đọc “Mấy quả khế chua” của Cảnh Trà

Nghĩ về thơ giữa nhân gian…

Cập nhật ngày: 28/10/2014 - 10:44

Lý tưởng ấy không chỉ phản ánh qua những tập thơ ông sáng tạo nên trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, mà còn thể hiện qua cách nhìn nhận những bài thơ hay trong thi ca Việt Nam hiện đại và bình giá nó với cách nhìn thật dân gian. Nếu đọc tập sách “Mấy quả khế chua”, bạn sẽ thấy điều đó. Còn tôi, sau khi đọc nó, thấy muốn góp một lời bàn, hy vọng bổ ích cho đời sống thơ ca Việt hiện nay.

Đi mãi trên đường đời, đường thơ, cái hay của thơ ca Việt Nam cứ thấm dần, thấm sâu vào Cảnh Trà, nên tới những năm đầu thế kỷ XXI, ông muốn bày tỏ những nhìn nhận về thơ Việt Nam hiện đại. Và ông đã viết. Trong đời sống văn chương nước ta từ cuối thập kỷ 30 thế kỷ trước đến nay, nhiều nhà lý luận phê bình và các tác giả văn chương đã viết rất nhiều về cái hay của thơ Việt nói chung và bình phẩm những bài thơ hay của thơ ta nói riêng.

Theo thời gian, nhiều tác giả đã đưa lý luận mang tính học thuật vào những bài viết của mình. Không phải với ý đồ muốn cho khác người, mà bởi phẩm chất dân gian trong hồn thi sĩ Cảnh Trà khiến ông nhìn nhận những bài thơ theo cách của ông.

Với bài thơ “Hai sắc hoa tigôn” của nữ sĩ TTKH, bằng ít dòng thông tin, Cảnh Trà đã trình bày xuất xứ của nó- như một huyền thoại, khiến người đọc tiếp nhận một số phận thi ca đẹp đẽ, chân thực như nó vốn có trên cõi đời này.

Trường hợp bài “Xuống núi” của Lâm Quý- nhà thơ người Cao Lan, Cảnh Trà cũng phác nên vẻ đẹp chất phác của tâm hồn tác giả, một vẻ đẹp được chính quê hương ông nuôi dưỡng. Điều đó giúp người đọc tiếp cận nhà thơ, bài thơ một cách tự nhiên, và thấm thía cái hay của “Xuống núi” thật tự nhiên.

Một trường hợp nữa, bài “Điều kỳ diệu ở hai bầu vú” của Nguyễn Vũ Tiềm, không nhiều lời, Cảnh Trà kể cho người đọc câu chuyện ni cô thấy một bé sơ sinh bị bỏ rơi nơi cửa chùa, bế bé vào chùa. Nhưng bé đói, rất đói, ni cô không thể không cho bé ngậm bầu vú chưa từng nuôi con của mình.

Đói, bé mút mãi, mút mãi và rồi đã xuất hiện điều kỳ diệu là hai bầu vú có sữa để nuôi bé! Và nhờ vậy, bài thơ được nảy sinh giữa nhân gian... Ở đây, tôi xin nêu lại một thực tế trong đời sống thơ ca: Bài thơ “Hai sắc hoa tigôn” ngay từ khi mới xuất hiện trên báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” đã được người đọc rất yêu mến. Năm năm sau, khi tuyển chọn thơ làm cuốn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã không in bài thơ đó.

Từ bấy đến nay, không ít bài thơ trong “Thi nhân Việt Nam” không còn được bạn đọc lưu tâm nữa nhưng nếu có cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về những bài thơ hay trong thế kỷ XX, chúng tôi nghĩ, chắc có nhiều người vẫn chọn “Hai sắc hoa tigôn”. Những nếm trải sự đời thấm thía trong lòng mình hay sự sống từ cuộc đời dội vào lòng mình khiến phải thổn thức khôn nguôi, người có năng khiếu văn chương đem viết thành thơ, thì thơ ấy sẽ sống trong cuộc đời theo cách của nó.

“Hai sắc hoa tigôn” là bài thơ như vậy, không lọt vào mắt xanh của Hoài Thanh, nhưng lại neo đậu trong lòng người thật lâu bền! Bài “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan mà Cảnh Trà bàn tới trong “Mấy quả khế chua” cũng vậy, khi chưa được in ra, nó đã sống trong đời qua những bản chép tay.

Và tôi nghĩ, bài thơ “Xuống núi” của Lâm Quý, bài thơ “Điều kỳ lạ ở hai bầu vú” của Nguyễn Vũ Tiềm cũng là do vui buồn trong đời khiến nhà thơ thổn thức, phải viết ra, nó là thơ của cuộc sống, vì cuộc sống mà viết…

Và, ý đầu tiên trong lời bàn bài này là đời sống thế nào sẽ có thơ ca thế ấy.

Không giống những tập sách bình luận thơ ca khác, “Mấy quả khế chua” được Cảnh Trà viết khá tuỳ hứng, là những đoạn bút ký văn chương đan xen những cảm nhận của một thi sĩ. Tôi có hỏi ông: “Sao lại đặt tên sách là Mấy quả khế chua?”. Cảnh Trà nói: “Khế chua, ai thấy cũng thèm, đói cũng thèm, no cũng thèm ăn…”.

Đọc nhiều (no) sách cũng thèm thơ hay; đọc ít (đói) sách cũng thèm thơ hay. Hoá ra, thơ hay nó như vậy. Bởi phẩm chất của một thi sĩ có giọng thơ dân gian, không tỉa tót cầu kỳ, không đi sâu vào những thông tin về tác giả và xuất xứ bài thơ mang tính hiếu kỳ nhằm kích hoạt tính tò mò, không viện dẫn lý thuyết học thuật, Cảnh Trà hấp dẫn người đọc bằng kinh nghiệm văn chương cùng một ngôn ngữ giản dị, khoáng đạt. Ông dẫn dụ thơ Lâm Quý: Ở trên núi nhìn toàn thấy váy/ Xuống biển khơi nhìn toàn thấy đùi/ Đùi và váy đều là hai thứ/ Làm cho tôi mê mẩn suốt đời” (bài “Xuống núi”) .

Ông dẫn thơ Đinh Thị Như Thuý: Hoa không nói lời hoa/ Chỉ trắng như một niềm vui sướng/ Và gió và ong và bướm…/ Và trên hoa lộng lẫy nắng trời (bài “Viết trong mùa tưới rẫy”). Ông dẫn thơ Nguyễn Hữu Quý: Một thành cổ? Một Trường Sơn/ Một miền hương khói/ Một dải quê hương mây trắng hồn người” (bài “Miền Trung”).

Có một nhà phê bình văn học đã nói rất chí lý rằng, đọc một bài bình luận thơ, nếu thấy những câu thơ tác giả dẫn ra không hay, thì không cần đọc bài bình luận đó nữa. Những câu thơ Cảnh Trà dẫn dụ đều hay. Điều đó cho thấy, “Mấy quả khế chua” có sức cuốn hút thực sự; và điều đó cũng cho thấy sự quan tâm đến thơ ca của ông thật sâu rộng, cả về mặt đề tài, cả thơ của các nhà thơ viết từ đầu thế kỷ trước cho tới thơ của các tác giả đương đại.

Những bài thơ Cảnh Trà phân tích và bình giá như vừa nêu ở trên, thường là của những tác giả không có những tuyển tập đồ sộ hàng ngàn trang, không có bề dày sáng tác để các nhà lý luận văn học nghiên cứu và viết nên những công trình nhiều trang viết.

Nhưng những bài thơ ấy đã ra đời, bởi cuộc sống mà thơ ấy phải ra đời. “Hai sắc hoa ti gôn”  không được con mắt xanh của Hoài Thanh lựa chọn; “Màu tím hoa sim” còn long đong hơn nữa nhưng rốt cuộc, thơ ấy vẫn sống trong cuộc đời này. Vậy “Xuống núi”, “Viết trong mùa tưới rẫy” và “Miền Trung” dẫu không được các nhà nghiên cứu lý luận để mắt tới nhưng nó sẽ sống trong người đọc bằng phẩm giá của nó.

Và ý thứ hai trong lời bàn của bài viết này là khi cuộc sống đòi hỏi mà các thi nhân có bề dày sáng tác không đáp ứng được, thì cuộc sống sẽ tạo nên nhà thơ và thơ ca của mình!

Thơ của các cây bút đương đại những năm gần đây được nhắc đến nhiều, qua các cuộc hội thảo, qua những bài nghiên cứu công phu được soi sáng bởi các lý thuyết triết học, mỹ học trong nước ngoài nước. Như thế cũng hay, thế mới gọi là đổi mới, muôn màu muôn vẻ.

Nhưng tôi thấy bình giá thơ của các nhà thơ đương đại theo thẩm mỹ dân gian như Cảnh Trà cũng hay đấy chứ! Ông dẫn thơ Nguyễn Quang Tính viết về cỏ trên mộ chí ở Trường Sơn: Xanh đến rợn người/ Xanh đến nhức nhối/ Xanh như là vì máu đỏ mà xanh… (Bài “Cỏ trên mộ chí”).

Và rồi Cảnh Trà định giá: “Hỡi ơi, câu thơ nặng khủng khiếp! Nặng như không có gì nặng bằng xanh như là vì máu đỏ mà xanh”. Không bằng mỹ học hiện đại, với mỹ học dân gian mới nhận thấy một sự thật bình dị rằng: “các liệt sĩ là những người con ngoan nhất, hiền nhất, hiếu thảo nhất đối với gia đình và đất nước”. Thật nhân bản là đã nhìn thấy được như vậy, nên khiến người đọc đồng cảm được vì sao máu trên mộ liệt sĩ lại “xanh khác thường, bạo liệt, đớn đau bậc nhất” - như Cảnh Trà viết.

Có khi, chỉ là ấn tượng đột ngột của đời sống trước mắt, loé lên và dội mạnh vào tâm can, trí não nhà thơ, mà thơ ra đời. Như cái khoảng thời gian Lưu Đình Hùng thấy người mẹ và đứa con sống trong Căn nhà ngửa mặt thấy trời/ Nắng lọt qua kẽ vách/ Tóc bạc nhuốm màu bụi tro…

Đời cơ cực thế là cùng, lại còn xảy ra chuyện Không kịp tìm roi/ Chị đã dang tay tát… Lưu Đình Hùng viết bài “Người đàn bà đánh con” như vẽ lại một cảnh đời trước mắt, sau khi tát con: Con chị không khóc/ Trái tim cũng là con chị? Nó đau cùng đứa con kia. Cảnh Trà bình bài thơ thật ngắn gọn: “mặc dầu đứa con không khóc, chúng ta thông cảm với chị. Nhưng chị thì ngồi như chết. Viết bình giá thơ như thế là cố nuốt cục đau đớn xuống đáy lòng mà hạ bút!

Lại cũng có khi, những nghĩa lý cao sâu trong cõi nhân sinh này, như sự được và mất, có và không, sống và chết, có thể chỉ gói gọn trong bốn câu thơ thôi, ấy là trường hợp bài “Tìm gì” của nhà thơ Trần Lê Văn. Vợ ông người Thái ở Thuận Châu qua đời từ khi còn trẻ; con ông bị bệnh não, sống đời thực vật; bạn chí cốt của ông là nhà thơ Quang Dũng rất vui tính, đã qua đời sớm… và thơ ông thế này: Vợ gửi tuổi xuân trên núi/ Con gửi trí khôn lên trời/ Bạn gửi tiếng cười dưới đất/ Tôi tìm gì nhỉ quanh tôi? Những chữ không chảy máu, không nước mắt, bởi đã biết bao đêm nghiến răng tứa máu, nuốt đi; biết bao đêm bưng mặt, nuốt nước mắt đi.

Vậy nên những chữ trầm tĩnh ấy mang một giá trị nhân văn khi viết về cõi đời này, khiến người ta thấu hiểu cái sự sống và chết, có và không, được và mất. Bài thơ đau đớn, đau không khóc được, đau nghẹt thở! Còn Cảnh Trà thì nhận định về bài thơ đó bằng mỹ học dân gian: “Ba cột trụ tình cảm của tác giả đã gửi hết trên núi, lên trời, dưới đất… Đây là bài thơ thuộc loại đau, đau thắt!”…

Phong cách bình giá thơ ca của Cảnh Trà trong “Mấy quả khế chua” thực sự là một phong cách được nuôi dưỡng từ cái nôi dân gian. Ông nói về mọi sự buồn vui, sướng khổ bằng ngôn ngữ dân gian. Cái hơn người của ông là những lời bình giá từng bài thơ đã làm người đọc cảm động.

Bởi lý tưởng thơ ca của ông như vậy, tôi mới nói, Cảnh Trà bình giá thơ bằng mỹ học dân gian. Viết ý này ra, nếu có nhà học thuật nào nảy ý muốn trao đổi lại, xin nói trước là tôi không tranh luận đâu. Lý do rất đơn giản, đâu có một trường phái mỹ học nào có tên là mỹ học dân gian.

Ai muốn biết có nó hay không thì hãy cặm cụi đi vào dân gian, may ra sẽ thấy nó. Thấy, nhưng có nắm bắt được mỹ học đó không, thì phải sang một câu chuyện khác, có tên gọi là tài năng. Nhà thơ Cảnh Trà viết theo mỹ học ấy, vẫn hay đấy chứ. Mỗi bài ông viết đều rút ra một điều gì đó, để người đọc và cả những bạn văn cùng suy ngẫm. Suy ngẫm về thơ, suy ngẫm về nhà thơ. 

Và, thêm một ý nữa cho lời bàn của tôi là: Thơ và nhà thơ đều sinh ra giữa nhân gian và được kiểm định phẩm giá bởi cõi nhân gian mà thôi.

Anh Chi