Pháp luật   Tin tức

Nhiều quy định mới liên quan đến cư trú 

Cập nhật ngày: 09/09/2021 - 23:54

BTN - Thông tư 55/2021/TT-BCA (viết tắt là Thông tư 55) quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú năm 2020 có hiệu lực từ ngày 1.7.2021, trong đó có nhiều điểm mới liên quan đến cư trú, sổ hộ khẩu.

Người dân có thể đăng ký thường trú tại nhà thông qua Cổng dịch vụ công (ảnh minh họa)

Ðiều 5 của Thông tư 55 quy định rõ các trường hợp tạm thời chưa được thay đổi nơi cư trú. Theo đó, người quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Ðiều 4, Luật Cư trú trong thời gian bị hạn chế quyền tự do cư trú thì tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú, trừ trường hợp có sự đồng ý cho thay đổi nơi cư trú bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền và trường hợp quy định tại khoản 3 điều này.

Người đang sinh sống tại địa điểm, khu vực được cơ quan, người có thẩm quyền công bố đang bị cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh, ban bố tình trạng khẩn cấp trong thời gian áp dụng các biện pháp cách ly tính từ thời gian bắt đầu đến khi kết thúc thì tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú.

Người đang bị áp dụng hình phạt cấm cư trú thì tạm thời chưa được giải quyết các thủ tục về đăng ký cư trú tại những nơi mà người đó bị áp dụng hình phạt cấm cư trú cho đến khi chấp hành xong, hoặc có văn bản cho phép của cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng hình phạt cấm cư trú.

Công dân đến sinh sống tại chỗ ở khác trong cùng phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú có trách nhiệm đến cơ quan đăng ký cư trú để cập nhật thông tin về nơi ở hiện tại trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, nếu chỗ ở đó không đủ điều kiện đăng ký thường trú. Trước đó, chưa có quy định về vấn đề này.

Từ ngày 1.7, trường hợp đăng ký thường trú, tạm trú trái luật, cơ quan đã đăng ký thường trú, tạm trú ra quyết định huỷ bỏ việc đăng ký thường trú, tạm trú. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định huỷ bỏ việc đăng ký thường trú, tạm trú, cơ quan đã đăng ký thường trú, tạm trú có trách nhiệm cập nhật việc huỷ bỏ việc đăng ký thường trú, tạm trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, thông báo cho cơ quan quản lý tàng thư hồ sơ cư trú; thông báo bằng văn bản cho công dân nêu rõ lý do (quy định cũ là 3 ngày làm việc).

Tại Ðiều 15, 16 của Thông tư 55 quy định rõ, việc thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng được thực hiện theo một trong các hình thức: trực tiếp tại cơ quan đăng ký cư trú hoặc địa điểm tiếp nhận thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng do cơ quan đăng ký cư trú quy định; thông qua số điện thoại hoặc hộp thư điện tử do cơ quan đăng ký cư trú thông báo hoặc niêm yết; trang thông tin điện tử của cơ quan đăng ký cư trú hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú; ứng dụng trên thiết bị điện tử.

Theo Ðiều 26, khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký thường trú, điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, tách hộ, xoá đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú, xoá đăng ký tạm trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã cấp, thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của Luật Cư trú và không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú...

Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm chuyển sổ hộ khẩu đã thu hồi kèm hồ sơ đăng ký cư trú vào tàng thư hồ sơ cư trú và bảo quản, lưu trữ sổ tạm trú đã thu hồi theo quy định.

Người dân có thể đăng ký thường trú, tạm trú trên Cổng dịch vụ công quản lý cư trú.

Ðiều 17 của Thông tư 55 quy định, công dân yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú có thể trực tiếp đến cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước không phụ thuộc vào nơi cư trú của công dân để đề nghị cấp xác nhận thông tin về cư trú hoặc gửi yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú.

Trong thời hạn 3 ngày làm việc, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm xác nhận thông tin về cư trú dưới hình thức văn bản (có chữ ký và đóng dấu của thủ trưởng cơ quan đăng ký cư trú) hoặc văn bản điện tử (có chữ ký số của thủ trưởng cơ quan đăng ký cư trú) theo yêu cầu của công dân.

Theo khoản 1, Ðiều 10, trường hợp có sự thay đổi về chủ hộ phải có ý kiến của chủ hộ trong tờ khai thay đổi thông tin cư trú (trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản) hoặc ý kiến thống nhất đề cử của các thành viên trong gia đình hoặc văn bản của Toà án quyết định chủ hộ.

Trường hợp chủ hộ chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, ngoài ý kiến thống nhất đề cử của các thành viên gia đình phải có thêm giấy chứng tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự.

Phương Thảo