Nhiều tồn tại về vệ sinh an toàn thực phẩm

Cập nhật ngày: 12/05/2012 - 03:14

Theo báo cáo của BCĐ liên ngành về VSATTP tỉnh Tây Ninh và Sở NN&PTNT tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về VSATTP được Chính phủ tổ chức vừa qua, những kết quả kiểm tra trong năm 2011 còn nhiều vấn đề băn khoăn về VSATTP, nhất là thực phẩm có nguồn gốc thực vật (chủ yếu là rau).

Thực phẩm động vật: Chưa bảo đảm vệ sinh, nhiễm khuẩn

Cơ quan chuyên môn thuộc Sở NN&PTNT đã kiểm tra một số cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và lấy 20 mẫu thức ăn chăn nuôi, 15 mẫu thuốc thú y để kiểm tra chất lượng sản phẩm theo chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011. Kết quả kiểm tra cho thấy, có 6 mẫu thức ăn chăn nuôi và 1 mẫu thuốc thú y không đạt chất lượng so với công bố chất lượng sản phẩm. Đồng thời, các đợt kiểm tra các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y ngoài chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011, cơ quan chức năng còn phát hiện 18 vụ vi phạm. Trong đó, có 4 vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi và 1 vụ sản xuất thuốc thú y không đúng theo công bố chất lượng sản phẩm, 2 vụ kinh doanh thuốc thú y và 1 vụ kinh doanh thức ăn chăn nuôi hết hạn sử dụng, 2 vụ kinh doanh thuốc thú y không có chứng chỉ hành nghề, 8 vụ kinh doanh thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi (2 vụ) không có giấy phép kinh doanh.

Ngành Thú y tăng cường kiểm tra tại các cơ sở giết mổ gia súc.

Qua kiểm tra các quầy kinh doanh sản phẩm động vật và kiểm tra hàn the trong quy trình bảo quản, cơ quan chuyên môn thuộc Sở NN&PTNT không phát hiện trường hợp nào sử dụng hàn the. Tuy nhiên, kết quả giám sát mối nguy hại từ các nhóm thực phẩm trên thị trường của ngành Y tế lại cho thấy: Qua giám sát 774 mẫu (387 mẫu vi sinh, 387 mẫu hoá lý), có 339/387 mẫu vi sinh đạt chất lượng. Số mẫu không đạt là do nhiễm khuẩn Ecoli (32 mẫu), gồm thịt heo quay, chả cá, giò nạc, chả thịt xay và nhiễm khuẩn Colifoms 16 mẫu (ở thịt heo quay). Ở 387 mẫu hoá lý, đạt chất lượng 369 mẫu. Trong đó có 23 mẫu không đạt về hàn the (ở giò nạc và thịt xay), có 3 mẫu nhiễm foocmon (ở bún).

Cơ quan chức năng thuộc Sở NN&PTNT của tỉnh cũng đã phối hợp với Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương II kiểm tra, kiểm nghiệm một số mẫu thịt, nước, nước thải và mẫu không khí của 14 cơ sở giết mổ. Kết quả, hầu hết các mẫu thịt trâu, bò, heo đạt yêu cầu VSTP. Tuy nhiên, có một số mẫu không đạt yêu cầu về vi khuẩn. Về nước, cả 14/14 mẫu nước tại các cơ sở cơ bản đều đạt các chỉ tiêu khác, trừ chỉ tiêu pH (thấp hơn so với tiêu chuẩn quy định).

Theo Sở NN&PTNT, vẫn còn một số cơ sở giết mổ nằm trong khu dân cư; một số cơ sở không có hố sát trùng, không làm riêng lối nhập heo sống và lối xuất thịt heo; điều kiện vệ sinh chỗ giết mổ chưa bảo đảm vệ sinh, có nguy cơ để vi sinh có hại xâm nhập vào thịt; hầu hết các cơ sở giết mổ không có phương tiện vận chuyển thịt chuyên dụng mà chở bằng xe thô sơ, thịt có nguy cơ nhiễm bẩn, vi sinh có hại; đa số các cơ sở giết mổ chưa đáp ứng được yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật nhà xưởng, trang thiết bị sản xuất... Theo BCĐ liên ngành về VSATTP tỉnh Tây Ninh, công tác quản lý sản phẩm động vật sử dụng làm thực phẩm ở vùng xa còn lỏng lẻo; việc đầu tư các cơ sở giết mổ tập trung không được các nhà đầu tư quan tâm vì vốn đầu tư cao, thu hồi vốn chậm; các quầy, sạp buôn bán sản phẩm động vật, gia súc, gia cầm tại các chợ chưa được đầu tư đúng mức; việc mua bán gia cầm sống và giết mổ gia cầm tại các chợ không bảo đảm VSATTP vẫn còn.

Rau an toàn liệu có “an toàn”?

Một lĩnh vực đáng chú ý khác là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong sản xuất nông nghiệp. Ngành chức năng đã thanh tra về việc sử dụng thuốc BVTV đối với 250 hộ nông dân, kết quả có đến 72/250 hộ vi phạm quy định về an toàn trong sử dụng thuốc BVTV. Có 55 hộ sử dụng thuốc BVTV không đúng nồng độ, liều lượng; 13 hộ sử dụng thuốc BVTV không bảo đảm thời gian cách ly; 4 hộ vi phạm về bảo hộ lao động khi phun thuốc, xử lý bao bì, vỏ chai không theo quy định, pha trộn hỗn hợp thuốc không đúng kỹ thuật…

Cơ quan y tế lấy mẫu thực phẩm kiểm tra nhanh hàn the ở một chợ thuộc huyện Châu Thành.

Ngành chức năng cũng đã lấy 160 mẫu, phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV thuộc nhóm lân hữu cơ và carbamate trên rau quả tại chợ đầu mối trong tỉnh bằng phương pháp GT- Testkit. Kết quả, có 110 mẫu không phát hiện dư lượng thuốc BVTV, 44 mẫu có dư lượng thuốc BVTV nhưng ở mức cho phép, 6 mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt quá mức cho phép (hành lá, ớt).

Ngành chức năng cũng đã lấy 40 mẫu rau HTX rau an toàn ở xã Trường Tây, huyện Hoà Thành, có diện tích 3,1 ha với 20 hộ nông dân sản xuất đem phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV bằng phương pháp GT- Testkit. Kết quả, chỉ có 2 mẫu không có dư lượng thuốc BVTV, 25 mẫu vượt ngưỡng ở mức cho phép về dư lượng thuốc BVTV và có đến 13 mẫu vượt ngưỡng quá mức cho phép.

Tại HTX rau an toàn ở xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, có diện tích 3,25 ha với 20 hộ nông dân sản xuất, ngành chức năng lấy 40 mẫu phân tích dư lượng thuốc BVTV. Kết quả, có 3 mẫu không phát hiện có dư lượng; 28 mẫu có dư lượng thuốc BVTV ở mức cho phép và 9 mẫu vượt mức cho phép.

Tại tổ sản xuất rau an toàn (kèo nèo) trồng tại xã Tân Bình, Thị xã, diện tích gần 5,1ha, với 20 hộ nông dân trồng rau, ngành chức năng lấy 40 mẫu đem phân tích. Kết quả có 31 mẫu không phát hiện dư lượng thuốc BVTV thuộc nhóm lân hữu cơ và carbamate, 9 mẫu còn lại có dư lượng nhưng ở “ngưỡng an toàn”.

Tại mô hình sản xuất rau ở xã Chà Là (huyện Dương Minh Châu, có diện tích 5,1ha, 20 hộ nông dân tham gia), ngành chức năng lấy 40 mẫu đem phân tích dư lượng thuốc BVTV. Kết quả có 22 mẫu không có dư lượng thuốc BVTV, 17 mẫu có dư lượng ở ngưỡng an toàn, 2 mẫu vượt mức cho phép.

Qua khảo sát tại 5 hộ trồng rau và 10 cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành chức năng nhận thấy sẽ rất khó khăn để truy xuất nguồn gốc sản phẩm rau trên thị trường khi “có vấn đề” về VSATTP. Hầu như những nơi được kiểm tra không ghi chép nhật ký sản xuất (hồ sơ mua và sử dụng phân bón, hoá chất, thuốc BVTV); không có nhật ký theo dõi quá trình thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm… Mặt khác, hiện nay nhiều hộ trồng rau chưa được hướng dẫn kỹ thuật, nhất là chưa được tập huấn về kỹ thuật trồng rau an toàn.

HOÀNG ĐÌNH BẢO