Tây Ninh xây dựng hoàn thành trên 82% số cột mốc biên giới

Cập nhật ngày: 28/02/2011 - 11:06

Tuần tra bảo vệ vành đai biên giới

Với tuyến biên giới đi qua địa bàn tỉnh khá dài (243,25 km gần bằng 1/4 chiều dài đường biên giới Việt Nam - Camuchia), giáp với 3 tỉnh Kampong Cham, Prey Veng, Svay Rieng của nước láng giềng, nhiệm vụ phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh có vị trí hết sức quan trọng.

Thực hiện Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam – Campuchia năm 1985, từ tháng 7 năm 2006 tỉnh Tây Ninh đã bắt đầu khởi động lại tiến trình phân giới cắm mốc. Đầu tiên là khởi công xây dựng cột mốc số 171 tại cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và hoàn thành vào tháng 9.2006. Năm 2007 xây dựng cột mốc số 118 tại cửa khẩu quốc tế Xa Mát. Năm 2008 tỉnh khảo sát, xác định được 9 vị trí với 11 cột mốc. Năm 2009 kết quả 2 đội khảo sát xác định được 29 vị trí với 32 cột mốc. Vào cuối tháng 12.2009 cấp trên chỉ đạo tỉnh Tây Ninh tiếp nhận từ tỉnh Long An giao 3 cột mốc 177, 178, 179 đã xây dựng xong, và tỉnh Bình Phước chuyển giao cho Tây Ninh tìm, xác định vị trí mốc đôi 79 (1,2) giáp ranh chưa xây dựng. Tính chung, tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh dự kiến phải xác định 101 vị trí với số cột mốc phải xây dựng là 110 cột mốc, chiếm gần 1/3 số cột mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia.

Để tổ chức thực hiện nhiệm vụ phân giới cắm mốc, tỉnh Tây Ninh đã thành lập Ban chỉ đạo phân giới cắm mốc do đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Ngoại vụ làm Phó ban thường trực cùng một số đại diện các ngành liên quan là phó ban và thành viên. Lúc đầu tỉnh chỉ có một Đội phân giới cắm mốc số 6, tuy nhiên do yêu cầu nhiệm vụ khá phức tạp nên sau đó được Bộ Ngoại giao chấp thuận, tỉnh thành lập thêm Đội số 6B và bắt đầu phối hợp với Đội phân giới cắm mốc số 5 của Campuchia triển khai công tác phân giới cắm mốc trên đoạn biên giới giữa tỉnh Tây Ninh với tỉnh Kampong Cham từ ngày 1.7.2009.

Ban chỉ đạo tỉnh chỉ đạo hai Đội phân giới cắm mốc số 6 và 6B thường xuyên tiến hành khảo sát đơn phương các vị trí mốc, đồng thời phối hợp với các đồn biên phòng rà soát, thống kê, nắm tình hình dân cư đang sản xuất trong phạm vi khu vực dọc đường biên giới để báo cáo về trên có phương án thích hợp. Trong năm 2010 hai Đội phân giới cắm mốc của tỉnh đã khảo sát đơn phương các vị trí dự kiến cắm mốc, sau đó cùng với Đội của nước bạn khảo sát song phương và đàm phán xác định được 39 vị trí với 42 cột mốc. Luỹ kế đến đầu năm 2011 trên toàn tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh đã xác định được 82/101 vị trí với 90/110 cột mốc và đã xây dựng 83 cột mốc.

Kết quả số cột mốc đã cắm ở các huyện biên giới gồm có: -Huyện Tân Châu có đường biên giới dài 47,5 km, có 28 vị trí mốc (cột mốc 79 – 106), đã xác định 23 vị trí với 23 cột mốc. -Huyện Tân Biên có đường biên giới dài 93 km, có 27 vị trí mốc (cột mốc 27 – 133), đã xác định 22 vị trí với 25 cột mốc. -Huyện Châu Thành có đường biên giới dài 48 km, có 23 vị trí mốc (cột mốc 134 – 156), đã xác định 15 vị trí với 20 cột mốc. -Huyện Bến Cầu có đường biên giới dài 37 km, có 15 vị trí mốc (cột mốc 157 – 171), đã xác định 14 vị trí mốc. -Huyện Trảng Bàng có đường biên giới dài 15 km, có 8 vị trí mốc (cột mốc 172 – 179), đã xác định 8 vị trí mốc.

Xác định vị trí cột mốc

Thống kê toàn tuyến, so với kế hoạch Trung ương dự kiến, trong năm 2011 tỉnh Tây Ninh còn phải tiếp tục xác định 19 vị trí với 19 cột mốc. Thực tế công tác phân giới cắm mốc cho thấy đây là công việc hết sức nhạy cảm và phức tap, tuy nhiên do sự kết hợp song phương có hiệu quả giữa các Đội phân giới cắm mốc của Việt Nam và Campuchia nên công tác xác định vị trí mốc trên thực địa được tiến hành suôn sẻ, nhanh chóng. Đặc biệt là sự phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền và lực lượng bảo vệ biên giới của nước bạn đã góp phần quan trọng cho công tác phân giới cắm mốc đạt kết quả. Kết quả công tác phân giới cắm mốc thời gian qua góp phần quan trọng vào việc xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, tạo điều kiện cho các địa phương hai nước, hai bên biên giới cùng tăng cường hợp tác phát triển kinh tế - xã hội.

LÊ VĂN DŨNG