Chuyện học phí trước thềm năm học mới 

Cập nhật ngày: 01/09/2021 - 00:16

BTN - Không chỉ ngành Giáo dục, đời sống, thu nhập, công ăn việc làm của nhiều tầng lớp nhân dân cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Việc có thu học phí trong năm học này hay không, nếu có, thu ở mức nào, cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2021.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 81/2021/NÐ-CP về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Nghị định này áp dụng từ năm học 2021-2022, thay thế Nghị định 86/2015/NÐ-CP và Nghị định 145/2018/NÐ-CP về chính sách học phí đối với người học (có hiệu lực từ ngày 15.10.2021). Chưa khi nào câu chuyện học phí được quan tâm như lúc này, đặc biệt trong tình hình dịch Covid- 19 lần thứ tư đang gây ra nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội.

Chia sẻ giữa nhà nước và nhân dân

Ðiều 8 của Nghị định 81/2021/NÐ-CP quy định nguyên tắc xác định học phí đối với loại hình trường công lập, ngoài công lập. Cụ thể, đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập, mức thu học phí được xây dựng theo nguyên tắc chia sẻ giữa Nhà nước và người học, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm, lộ trình tính giá dịch vụ giáo dục, đào tạo theo quy định và bảo đảm chất lượng giáo dục.

Ðối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên xác định mức học phí không vượt mức trần học phí được quy định trong Nghị định 81.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên xác định mức thu học phí từng ngành theo hệ số điều chỉnh so với mức trần học phí quy định đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa tự bảo đảm chi thường xuyên theo quy định. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được tự xác định mức thu học phí bảo đảm bù đắp chi phí, có tích luỹ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và các văn bản khác có liên quan.

Cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên xác định mức thu học phí từng ngành theo hệ số điều chỉnh so với mức trần học phí quy định đối với cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên theo quy định.

Ðối với chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đại học công lập đạt mức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định, hoặc đạt mức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn nước ngoài (hoặc tương đương), cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mức thu học phí của chương trình đó trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật do cơ sở giáo dục ban hành, thực hiện công khai giải trình với người học, xã hội.

Cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí và giá các dịch vụ khác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo (trừ dịch vụ do Nhà nước định giá) bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ hợp lý, có trách nhiệm công khai, giải trình với người học và xã hội về mức thu học phí, giá các dịch vụ do mình quyết định.

Học sinh thuộc đối tượng miễn, giảm học phí, hỗ trợ tiền đóng học phí tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được Nhà nước chi trả tối đa bằng mức học phí đối với học sinh cơ sở giáo dục công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên trên địa bàn.

UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục tiểu học, quy mô học sinh tiểu học trên địa bàn và định mức học sinh/lớp cấp tiểu học theo quy định để xây dựng tiêu chí xác định các địa bàn không đủ trường công lập.

UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt, quyết định mức hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh tiểu học tại các trường tư thục ở địa bàn không đủ trường công lập theo từng năm học, kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí do ngân sách Nhà nước cấp theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Ðịa phương quyết ðịnh mức học phí trực tuyến

Ðiều 9 của Nghị định 81 quy định học phí đối với giáo dục mầm non, phổ thông. Năm học 2021-2022, căn cứ tình hình thực tế của địa phương, HÐND cấp tỉnh quyết định khung học phí hoặc mức học phí cụ thể nhưng không vượt mức trần khung học phí hoặc mức học phí do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã ban hành năm học 2020-2021 đối với từng cấp học và từng khu vực thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương. Ðiều này có nghĩa, năm học 2021-2022, mức học phí vẫn giữ nguyên như năm học trước.

Năm học 2022-2023, khung học phí (mức sàn - mức trần) đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên như sau: (đơn vị ngàn đồng/học sinh/tháng).

HÐND cấp tỉnh căn cứ quy định trên để quyết định khung học phí hoặc mức học phí cụ thể đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập thuộc thẩm quyền và quyết định việc sắp xếp, phân loại các vùng trên địa bàn để cơ sở giáo dục áp dụng mức thu học phí.

Khung học phí đối với giáo dục tiểu học công lập quy định trong Nghị định 81 dùng làm căn cứ để HÐND tỉnh quyết định mức hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh tiểu học tư thục ở các địa bàn chưa đủ trường tiểu học công lập, và học sinh tiểu học tư thục thuộc đối tượng được hưởng chính sách miễn giảm học phí theo quy định.

Mức trần của khung học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập tự bảo đảm chi thường xuyên tối đa bằng 2 lần mức trần học phí. Mức trần của khung học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư tối đa bằng 2,5 lần mức trần học phí.

Cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư đạt mức kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định, thì được tự xác định mức thu học phí trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí do cơ sở giáo dục ban hành, trình UBND tỉnh để đề nghị HÐND cùng xem xét phê duyệt mức thu học phí.

Từ năm học 2023-2024 trở đi, khung học phí được điều chỉnh theo tỷ lệ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm và khả năng chi trả của người dân nhưng không quá 7,5%/năm. Căn cứ khung học phí theo quy định, UBND tỉnh trình HÐND cùng cấp quyết định mức thu học phí cụ thể nhưng không vượt mức trần quy định.

Trường hợp học trực tuyến (học online), UBND tỉnh trình HÐND cùng cấp quy định cụ thể mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục công lập theo phân cấp quản lý trên cơ sở chi phí phát sinh thực tế hợp lý, tối đa bằng mức học phí của cơ sở giáo dục đã được ban hành.

Ðối với cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở đào tạo khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông được áp dụng mức học phí tương đương với mức học phí của cơ sở giáo dục phổ thông công lập cùng cấp học trên địa bàn. Ðối với các loại hình giáo dục thường xuyên khác, UBND tỉnh trình HÐND cùng cấp phê duyệt mức thu cụ thể phù hợp với từng loại hình.

Miễn, giảm học phí

Nghị định 81/2021/NÐ-CP quy định đối tượng không phải đóng học phí gồm học sinh tiểu học trường công lập; người theo học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học, các ngành chuyên môn đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Nghị định 81 quy định cụ thể nhóm đối tượng được giảm học phí và hỗ trợ tiền đóng học phí. Theo đó, nhóm đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập, tư thục có đào tạo về văn hoá - nghệ thuật bao gồm: nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống.

Học sinh, sinh viên học các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc, một số nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với giáo dục nghề nghiệp theo danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số (ngoài đối tượng dân tộc thiểu số rất ít người) ở thôn/bản đặc biệt khó khăn, xã khu vực III vùng dân tộc và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Nhóm đối tượng được giảm 50% học phí gồm: trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công chức, viên chức, công nhân mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông có cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ hoặc ông bà (trong trường hợp ở với ông bà) thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Ðối tượng được hỗ trợ tiền đóng học phí: học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục tư thục ở địa bàn không đủ trường công lập được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí.

Nhóm đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập: trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông bị khuyết tật.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông ở thôn/bản đặc biệt khó khăn, xã khu vực III vùng dân tộc và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Khi nào bỏ học phí cấp trung học cơ sở

Khoản 5, Ðiều 99 của Luật Giáo dục năm 2019 quy định “trẻ em mầm non 5 tuổi và học sinh trung học cơ sở được miễn học phí theo lộ trình do Chính phủ quy định”. Luật quy định như thế nhưng Nghị định 81 vẫn quy định mức học phí đối với bậc học mầm non, tiểu học và THCS. Ðiều thắc mắc này từng được nêu lên trong năm học 2020- 2021.

Thực tế, mức thu học phí đối với bậc học mầm non, cấp tiểu học cần được hiểu là định mức mà Nhà nước chi ra để trả cho cơ sở giáo dục trong một năm học đối với một học sinh. Khoản tiền này, học sinh mầm non- đúng hơn là gia đình các cháu vẫn phải đóng trực tiếp cho nhà trường.

Riêng học sinh tiểu học, Nhà nước cấp bù cho nhà trường, người học và gia đình người học không phải đóng khoản tiền này. Ðối với học sinh cấp THCS, Luật Giáo dục năm 2019 quy định được miễn học phí nhưng “theo lộ trình”, và lộ trình này sẽ thực hiện từ ngày 1.9.2025. Ðiều này có nghĩa từ nay đến năm 2025, học sinh THCS vẫn phải đóng học phí. Nghị định 81 vừa được thông qua cũng quy định rõ điều này.

Một nội dung mới được quy định trong Nghị định 81 là thu học phí đối với hình thức học trực tuyến. Năm học 2020-2021, việc có thu học phí trong thời gian học sinh học online hay không từng gây ra sự lúng túng trong các cơ quan quản lý và nhà trường.

Tại thời điểm đó, công văn của Bộ GD&ÐT gửi UBND các tỉnh, thành phố nêu: “Ðối với việc triển khai dạy học trực tuyến, đề nghị các địa phương và cơ sở giáo dục cần căn cứ các công văn của Bộ GD&ÐT để thực hiện cho đúng.

Có ba công văn liên quan, gồm: Công văn số 1061/BGDÐT-GDTrH ngày 25.3.2020 hướng dẫn dạy học qua internet, trên truyền hình đối với cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên trong thời gian học sinh nghỉ học ở trường do dịch Covid-19 năm học 2019-2020; Công văn số 795/BGDÐT-GDÐH ngày 13.3.2020 triển khai công tác đào tạo từ xa ứng phó với dịch Covid-19 và Công văn số 988/BGDÐT-GDÐH ngày 23.3.2020 về việc bảo đảm chất lượng đào tạo từ xa trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19 để tính toán, thông báo công khai, minh bạch và thoả thuận thu trên cơ sở triển khai thực tế công tác dạy học.

Ðối với các cơ sở giáo dục công lập, trong thời gian học sinh, sinh viên nghỉ học để phòng tránh dịch nếu không triển khai học trực tuyến thì không thực hiện thu học phí. Việc thực hiện thu học phí chỉ được phép khi tổ chức học trực tuyến hoặc bố trí học bù.

Mức thu học phí thực hiện theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm nguyên tắc theo số tháng thực học nhưng không vượt quá quy định tại Nghị định số 86/2015/NÐ-CP”. Một khó khăn trong việc thu học phí (nếu học online) là khó có căn cứ để quy đổi thành từng tiết học, buổi học, tháng học.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2021.

Không thu học phí có thời hạn

Tại hội nghị tổng kết năm học 2020-2021 diễn ra hôm 28.8, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương bị thiệt hại nặng nề do dịch bệnh Covid- 19 xem xét miễn học phí đối với học sinh. Hiện nay, một số tỉnh, thành phố như Ðà Nẵng, Quảng Ninh đã có quyết định miễn hoàn toàn học phí đối với học sinh từ mầm non đến lớp 12. Lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh cũng thông tin, địa phương này đang tính toán để miễn hoàn toàn học phí đối với học sinh trong năm học này, đồng thời nghiêm cấm các khoản lạm thu.

Nghị định 81 cũng quy định không thu học phí có thời hạn. Theo đó, khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh, các sự kiện bất khả kháng do cơ quan có thẩm quyền công bố; tuỳ theo mức độ và phạm vi thiệt hại, UBND tỉnh trình HÐND cùng cấp xem xét, quyết định không thu học phí trong thời hạn nhất định đối với trẻ em mẫu giáo và học sinh phổ thông công lập, học viên cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông thuộc vùng bị thiên tai, dịch bệnh, vùng xảy ra các sự kiện bất khả kháng.

Mặc dù cũng từng gặp khó khăn do dịch bệnh Covid- 19 nhưng so với năm học 2020-2021, năm học 2021-2022, như lời Bộ trưởng Bộ GD&ÐT Nguyễn Kim Sơn, đây sẽ là “một năm học đầy thách thức”. Không chỉ ngành Giáo dục, đời sống, thu nhập, công ăn việc làm của nhiều tầng lớp nhân dân cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Việc có thu học phí trong năm học này hay không, nếu có, thu ở mức nào, cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

Việt Ðông