Chuyện tình người lính Trường Sơn

Cập nhật ngày: 23/01/2012 - 05:58

Đại tá Đinh Công Ty, nguyên Chính uỷ Trung đoàn xe vận tải số 11, Sư đoàn vận tải 571 thuộc Đoàn 559 giới thiệu tôi với một cựu chiến binh đã lớn tuổi nhưng trông tác phong còn rất nhanh nhẹn: “Đây là đồng chí Đinh Công Nguyệt, trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Trường Sơn đường Hồ Chí Minh tỉnh Tây Ninh đấy”. Từ ngày đó, tôi và anh Nguyệt thường xuyên gặp nhau để bàn về việc thành lập hội truyền thống Trường Sơn đường Hồ Chí Minh tỉnh Tây Ninh. Qua những phút trò chuyện tâm tình, tôi mới biết được câu chuyện tình đầy cảm động của anh trong những năm tháng chiến tranh.

Tháng 9.1965, chàng trai Đinh Công Nguyệt như bao thanh niên khác cùng quê Hà Nam Ninh (cũ) đã lên đường nhập ngũ. Các anh được phiên chế vào trung đoàn 10 công binh đảm nhận nhiệm vụ mở đường 20 Quyết Thắng từ ngã ba Xuân Sơn (tỉnh Quảng Bình) vượt biên giới Việt- Lào sang huyện Muang Bualapha, tỉnh Khămmuộn (Lào). Cùng thực hiện nhiệm vụ với trung đoàn 10 có tiểu đoàn 33 công binh- một tiểu đoàn “đặc biệt” thuộc Binh trạm 14. Nói đặc biệt là vì tiểu đoàn hầu hết là nữ. Trong đó có một cô gái rất đẹp, tên là Lan, mới chừng 18-19 tuổi, đã làm cho nhiều chàng trai ở trung đoàn 10 “xiêu đổ”. Thời đó, Đinh Công Nguyệt hãy còn là một chàng lính trẻ vui tính, thích bông lơn. Cả tiểu đội xúm lại thách anh gọi Lan là “em” trước mặt mọi người. Sợ gì mà không nhận lời? Nhưng phải nghĩ cách sao cho khỏi bị người đẹp bắt bẻ đây! Chàng trai suy tính…

Giây phút bồi hồi bên mộ người xưa tại nghĩa trang Trường Sơn (Quảng Trị) năm 2009

Sáng hôm sau, khi tiểu đội của Lan đi hàng dọc ngang qua tiểu đội của Nguyệt để ra công trường. Anh chàng tinh quái liền cất tiếng: “Lan, em ơi…” ngừng một giây, anh cất giọng ngâm: “…Ba Lan, mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn/ Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng/ Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn…”. Cả tiểu đội của Nguyệt vỗ tay thích thú, trong khi người đẹp tên Lan cúi đầu e thẹn.

Chuyện chỉ có thế, không ngờ tối hôm đó, đại đội triệu tập cuộc họp để kiểm điểm chiến sĩ Đinh Công Nguyệt vì tội… “hủ hoá miệng”! Chính trị viên và bí thư chi đoàn của đại đội yêu cầu chàng lính trẻ phải… nghiêm túc kiểm điểm vì cái tội đã dám gọi một đồng chí nữ bằng em! Chành trai trẻ nhất định không chịu. Anh lý sự: đó là tác phẩm của nhà thơ cách mạng Tố Hữu tôi đã được học trong chương trình văn học lớp bảy, nay còn nhớ và đọc ra, sao gọi là “hủ hoá miệng” được? Vậy là Nguyệt “thoát nạn”. Cũng từ hôm đó, anh trở thành “mục tiêu” chú ý của các cô gái ở tiểu đoàn 33. Nhưng người khiến anh quan tâm đặc biệt không phải là người đẹp tên Lan mà là một cô gái khác, thường chỉ lặng lẽ dành cho anh những ánh mắt thiện cảm nhưng đầy e ấp, ngại ngùng. Anh quyết định chủ động làm quen trước. Và anh đã biết tên cô gái ấy là Nguyễn Thị Nhạ.

Dần dần giữa hai người đã bớt dần đi khoảng khách e ngại nhưng cũng không dám thân mật quá với nhau vì nội quy của quân đội thời đó rất khắt khe. Hai người trao đổi địa chỉ gia đình mình với nhau, hy vọng một ngày nào đó có dịp sẽ đến thăm nhà nhau. Rồi đơn vị của anh phải rời đi, xuôi theo dãy Trường Sơn, vượt qua Muang Bualapha.

Sau gần hai năm công tác trên Trường Sơn, Đinh Công Nguyệt bị bệnh sốt rét quật ngã. Chiến trường gian khổ, tuổi thanh xuân cường tráng của anh vẫn không thắng nổi loài ký sinh trùng hiểm ác. Anh nằm liệt giường nhiều ngày, thân thể ngày một gầy rạc đi. Đơn vị quyết định đưa Nguyệt ra miền Bắc an dưỡng và trị bệnh. Chuyến xe chở Nguyệt và gần hai chục bệnh binh khác ngược đường 20-Quyết Thắng năm xưa. Không may, xe vừa đến dốc Đồng Tiền thì bị bom Mỹ ném, quả bom nổ gần hất tung chiếc xe xuống vực, bệnh binh trên xe chết gần hết. Anh Nguyệt may mắn sống sót nhưng từ bệnh binh đã trở thành thương binh. Anh được đưa ra chữa trị ở Quân y viện Quân khu 4 đóng tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Khi vết thương đã ổn, anh được đưa đến xã Hương Đô, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh an dưỡng, để chuẩn bị lên đường trở vào đơn vị. Trong thời gian an dưỡng anh vui mừng gặp lại chị Nhạ. Chị cũng bị sốt rét nên được đưa đến đây. Mới gặp nhau mấy hôm trước, hôm sau anh chị lại cùng nhập vào đoàn quân ra chiến trường. Trên đường hành quân, hai người có dịp gần nhau hơn. Anh mới biết, trong đợt đi an dưỡng vừa qua, chị đã tranh thủ đi phép về thăm quê và đã đến nhà, thăm mẹ anh. Thấy bà khóc, chị cầm tay an ủi: “Mẹ ơi, mẹ cứ yên tâm. Khi nào đất nước thống nhất chúng con sẽ về sum họp bên mẹ”. Anh cũng biết thêm trong đợt ra Bắc lần này, chị được phong quân hàm chuẩn uý và giữ lại làm bộ đội kho vận nhưng chị từ chối và nhất quyết xin trở vào đường 20 Quyết Thắng.

Sau những ngày ngắn ngủi bên nhau, rồi cũng đến lúc chia tay mỗi người một hướng. Đến Xuân Sơn, anh rẽ trái để trở vào Trường Sơn theo đường 10 và nhận công tác tại Binh trạm 44 đóng trên đất Dak Cheung tỉnh Sekon (Lào), giáp biên giới huyện Khâm Đức, tỉnh Quảng Nam. Chị tiếp tục trở lại đường 20 Quyết Thắng. Đơn vị chị đảm nhận đoạn đường bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nhất: từ cua chữ A, qua ngầm Ta Lê đến đèo Phu-la-nhích. Ngày 28.12.1967, khi trung đội của chị Nhạ đang lấp hố bom ở cua tay áo trên đèo Phu-la-nhích thì máy bay Mỹ ập đến. Trung đội trưởng Nguyễn Thị Nhạ bị một mảnh bom găm thẳng vào đầu và bị hất văng xa hàng chục mét. Mãi đến mấy ngày sau đơn vị mới tìm thấy xác chị.

Cựu binh Đinh Công Nguyệt vui cùng cháu nội bên đàn gà vịt của mình

Phải một năm sau, anh Nguyệt mới hay tin dữ. Trái tim tan nát, anh lặng người, mặc cho nước mắt từ từ ứa ra.

Năm 1973, anh được cử đi học ở miền Bắc. Và anh đã dành thời gian để tìm nhà bố mẹ của chị Nhạ để thăm viếng, coi như thay người xưa tỏ chút lòng hiếu thảo. Tiếc rằng anh không hoàn thành được tâm nguyện đó vì sau đợt bắn phá của máy bay Mỹ năm 1972, người dân ở vùng quê chị đều đã kéo nhau đi sơ tán nơi khác, anh không tìm được ông bà cụ. Cũng trong thời gian đó, hậu quả của trận bom ở dốc Đồng Tiền- đường 20 Quyết Thắng năm nào lại tái phát, làm anh phát bệnh tâm thần. Quyển sổ ghi chép, trong đó có địa chỉ gia đình chị Nhạ bị thất lạc.

Rồi anh cũng lập gia đình và có được mái ấm hạnh phúc.

Năm 1978, qua báo chí, anh hay tin chị Nguyễn Thị Nhạ đã được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Anh phăng tìm và có được địa chỉ cụ thể của gia đình chị. Những kỷ niệm về tình yêu đầu đời ở Trường Sơn lại thức dậy trong anh. Anh đem chuyện ấy kể lại cho vợ nghe. Cảm thông với chồng, chị Chi- vợ anh đồng ý sẽ cùng đi tìm gia đình chị Nhạ. Mãi đến năm 2000, hai vợ chồng mới tìm thấy gia đình chị Nhạ ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Lúc này, bố mẹ chị Nhạ đều đã qua đời, ruột thịt trong gia đình chỉ còn người chị và cô em gái của chị Nhạ. Biết chuyện, những người thân thuộc trong gia đình chị Nhạ đều rất trân trọng và quý mến anh Nguyệt, chị Chi như người nhà. Hai bên vẫn thường xuyên liên lạc, thăm hỏi lẫn nhau, cho dù vợ chồng anh Nguyệt đã định cư ở tận Tây Ninh, vùng đất biên giới của phương Nam xa vời vợi.

Bây giờ đã ở vào hàng tuổi ông nội, ông ngoại rồi, nhắc chuyện cũ, người xưa, cựu binh Đinh Công Nguyệt vẫn còn thấy bồi hồi. Trong suy nghĩ của ông: chính tình yêu sâu sắc, thiêng liêng đối với người đã khuất là chất keo gắn kết trái tim của những người còn lại với nhau!

Thạch Minh