Hồ sơ: “Đoạn hậu” của một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất

Cập nhật ngày: 16/10/2012 - 09:10

(BTN)- Mảnh đất bị tranh chấp có diện tích 748m2, toạ lạc tại ấp Lộc Du, thị trấn Trảng Bàng, có tới hai mặt giáp quốc lộ 22 và đường 22.12, nên có giá trị rất cao. Theo “tính toán” của Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện Trảng Bàng, mảnh đất này có giá tới hơn 2,7 tỷ đồng. Theo đó người được thi hành án là bà Nguyễn Thị Huệ, 86 tuổi (SN 1926) phải nộp cho Chi cục THADS Trảng Bàng hơn 83 triệu đồng, bằng 3% giá trị mảnh đất ấy! Trong khi trên thực tế, ngành THADS chưa phải “động tay” thi hành việc gì cả, vì từ năm 1945 đến nay, gia đình bà Huệ đã và đang sử dụng mảnh đất ấy. Còn việc tranh chấp và giải quyết tranh chấp chỉ diễn ra trên các văn bản giấy tờ, chạy “trở lên, lộn xuống” giữa các cấp xét xử từ toà huyện, toà tỉnh, tới toà tối cao, rồi mới “vào tay” cơ quan Thi hành án.

Ảnh minh hoạ

Nhiêu khê con đường “đáo tụng đình”

Quá trình tố tụng vụ tranh chấp quyền sử dụng mảnh đất ấy diễn ra như sau: Theo đơn khởi kiện ngày 3.3.1994 và các lời khai của bên nguyên đơn gồm 7 người trong một gia đình, uỷ quyền cho ông Vi Thành Kỉnh (SN 1964) đại diện, thì: Cha ông Kỉnh là ông Vi Thành Hổ trình bày trong đơn, năm 1945 cha ông Hổ là cụ Vi Văn Sẻ và mẹ ông là cụ Lâm Thị Nhơn, chết năm nào ông Hổ không nhớ (?!) có cho cha bà Nguyễn Thị Huệ làm nhà ở trên đất tại ấp Lộc Du, xã Gia Lộc (nay là thị trấn Trảng Bàng) không rõ diện tích, dài rộng là bao nhiêu (?!). Trên đất có trồng 6 đến 7 cây xoài, 2 đến 3 cây khế, 20 cây dừa và 1 hàng tre. Cha mẹ ông Hổ thu hoạch cây trái đến năm 1967, sau đó là ông Hổ thu hoạch. Sau giải phóng, ông Hổ đi cải tạo (vì có làm việc cho chính quyền chế độ cũ) thì giao cho em trai ông Hổ là ông Vi Ngọc Lâm thu hoạch. Đến năm 1979 thì bà Huệ không cho thu hoạch nữa, hiện cây sống hay chết không rõ vì bà Huệ không cho vào khu đất…

Năm 2000, ông Vi Thành Hổ chết. Năm 2006, ông Vi Thành Kỉnh và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cha mẹ họ tiếp tục tranh chấp đòi quyền sử dụng mảnh đất gia đình bà Nguyễn Thị Huệ sử dụng.

Về phía bị đơn, bà Huệ trình bày: Năm 1945, cụ Vi Văn Sẻ có cho cha bà khai phá đất, cất nhà ở, có giấy tờ gì hay không thì bà không biết. Khi vào ở trên đất không có cây cối gì cả, cha bà và bà đã trồng cây như hiện nay. Năm 1971, cha bà Huệ chết, gia đình bà tiếp tục ở trên đất ấy cho đến nay, gia đình ông Hổ không thu hoạch trái cây bao giờ cả. Bà Huệ không đồng ý trả đất, xin sở hữu cây trái trên đất vì gia đình bà vào ở từ lúc còn là đất hoang, gia đình bà đã sử dụng trên 50 năm, đã đóng thuế theo đúng quy định.

Sau khi gia đình ông Hổ khởi kiện đòi đất, TAND huyện Trảng Bàng xét xử sơ thẩm (Bản án số 03/1996, ngày 28.3.1996) quyết định: Giao cho bà Huệ sử dụng đất ngang 4 mét, dài 44 mét, còn lại 550m2 giao ông Hổ sử dụng. Tuy nhiên cả bên nguyên lẫn bên bị đều kháng cáo bản án này. Tại Bản án phúc thẩm (số 07/1996/DSPT ngày 18.7.1996), TAND tỉnh Tây Ninh quyết định giao thêm cho ông Hổ một chút (594m2), bớt phần bà Huệ một chút (ngang 4 mét, dài 33 mét). Sau khi toà tỉnh xử phúc thẩm, bà Huệ có đơn khiếu nại. Tại Quyết định kháng nghị số 13/DS ngày 31.1.1997, Phó Chánh án TAND tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên, giao cho Toà dân sự - TAND tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm. Tại Bản án giám đốc thẩm số 238 ngày 17.7.1997 Toà dân sự - TAND tối cao đã huỷ bản án phúc thẩm nêu trên, giao TAND tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm lại.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 16/PTDS ngày 18.9.1997 TAND tỉnh “nới thêm” cho bà Huệ một ít đất nữa (ngang mặt tiền 8 mét, ngang mặt hậu 5 mét, dài 33 mét), giảm phần ông Hổ một chút, còn lại 512m2. Tất nhiên, bà Huệ vẫn không chấp nhận bản án này, vì đất bà đã và đang cư ngụ ổn định hơn nửa thế kỷ, đâu dễ gì giao cho ai miếng nào. Bà tiếp tục khiếu nại.

Thế là bản án phúc thẩm (lần thứ 2) của TAND tỉnh Tây Ninh lại bị Phó Chánh án TAND tối cao kháng nghị, giao hồ sơ vụ án cho Toà dân sự - TAND tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm (cũng là lần thứ 2). Và Toà dân sự - TAND tối cao lại huỷ bản án phúc thẩm này tại Bản án giám đốc thẩm số 261 ngày 25.9.1998.

Đến khi TAND tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm (lần thứ 3), với Bản án số 27/PTDS ngày 5.2.1999, thì ông Vi Thành Hổ chỉ còn được giao 200m2 nơi bà Huệ làm nhà, làm chuồng heo. Bà Huệ được giao đất “nở hậu” 8 mét bằng với chiều ngang mặt tiền, và “lấy lại” chiều dài 44m, nhưng bà bị buộc phải dỡ nhà, dỡ chuồng heo chuyển qua phần đất được giao. Một năm sau, năm 2000 ông Vi Thành Hổ qua đời, năm 2002 con trai ông là ông Vi Thành Kỉnh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 200m2, phần được thi hành án. Có được ít đất, ông Kỉnh đã làm hàng rào B40, mà theo lời khai của ông thì đã tốn hết hơn 11,5 triệu đồng.

Dĩ nhiên, bà Huệ tiếp tục khiếu nại. Lần này TAND tối cao không còn kháng nghị giám đốc thẩm như 2 lần trước, mà là kháng nghị “tái thẩm”. Và tại Quyết định tái thẩm số 21/2006/DS-TT, ngày 21.2.2006, Toà dân sự - TAND tối cao đã huỷ tất cả các bản án sơ thẩm, phúc thẩm, giao xét xử sơ thẩm lại.

Lần này, TAND tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm với Bản án số 33/2006/DSST, ngày 20.7.2006 đã quyết định bác đơn của ông Vi Thành Kỉnh, giao bà Huệ quyền sử dụng trọn vẹn 748m2 đất, buộc ông Kỉnh tháo dỡ hàng rào B40 giao lại đất (200m2) cho bà Huệ sử dụng. Và lúc này thì đến phiên ông Kỉnh kháng cáo. Một lần nữa, TAND tối cao quyết định huỷ án sơ thẩm, giao sơ thẩm lại.

Tại Bản án sơ thẩm (lần thứ 2 của TAND tỉnh Tây Ninh) số 10/2009/DSST ngày 5.6.2009, toà đã không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Kỉnh, giao bà Huệ sử dụng 748m2 đất, có tứ cận hẳn hòi. Bản án còn yêu cầu Đội THADS Trảng Bàng trả lại cho ông Kỉnh 2 triệu đồng tiền ông Kỉnh đã nộp để “hỗ trợ bà Huệ di dời nhà, chuồng heo, giếng nước” mà bà Huệ không nhận. Nhưng bà Huệ phải hoàn trả cho ông Kỉnh chi phí làm hàng rào hơn 11,5 triệu đồng.

Sau khi có bản án sơ thẩm này, cả hai bên nguyên đơn, bị đơn đều kháng cáo trong cùng một ngày (16.6.2009); rồi Toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh đã quyết định huỷ bỏ, chuyển hồ sơ cho TAND tỉnh Tây Ninh “giải quyết lại vụ án”. Thế nhưng Chánh án TAND tối cao lại kháng nghị bản án phúc thẩm của Toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh, đề nghi Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm (lần thứ 3) huỷ bản án phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2009/DSST của TAND tỉnh Tây Ninh.

Cuối cùng tại phiên toà giám đốc thẩm ngày 29.6.2011, đại diện Viện KSND tối cao đã nhất trí với kháng nghị của Chánh án TAND tối cao, và kết quả Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2009/DSST của TAND tỉnh Tây Ninh đã được giữ nguyên. Nghĩa là bà Nguyễn Thị Huệ được quyền sử dụng mảnh đất 748m2 mà gia đình bà đã sử dụng liên tục từ năm 1945. Tính ra, quá trình tố tụng vụ này “nhiêu khê” chưa từng thấy với 3 lần sơ thẩm, 3 lần phúc thẩm, 3 lần giám đốc thẩm và 1 lần tái thẩm của cả hệ thống toà án từ cấp huyện đến cấp tối cao.

Thật ra với sự “nhiêu khê” đó và để có được kết quả cuối cùng “đất mình vẫn là của mình”, bà Nguyễn Thị Huệ đã phải mất “15 năm đáo tụng đình” từ Tây Ninh tới Hà Nội.

Phải thi hành án hơn 83,2 triệu đồng (?!)

Theo Quyết định giám đốc thẩm số 18/2011/DS-GĐT ngày 29.6.2011 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2009/DSST của TAND tỉnh Tây Ninh thì: “Bà Nguyễn Thị Huệ được quyền sử dụng diện tích đất 748m2”. Nghĩa là khi bản án được thi hành bà Huệ mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (mặc dù thực tế gia đình bà đã sử dụng 67 năm qua). Vì vậy sau khi được Cục THADS tỉnh Tây Ninh ra quyết định uỷ thác thi hành bản án, ngày 14.5.2012 Chi cục THADS Trảng Bàng đã ra quyết định (số 284/QĐ-CCTHA) thi hành án theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đuộc (con của bà Huệ, được bà Huệ uỷ quyền). Điều “hơi bị lạ” là trong Điều 1 của Quyết định 284 này thì ngoài đoạn trên nói về chuyện không chấp hành đơn khởi kiện của ông Vi Thành Kỉnh, khẳng định bà Nguyễn Thị Huệ được quyền sử dụng diện tích đất 748m2, lại có một câu “Đồng thời UBND huyện Trảng Bàng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Huệ được quyền sử dụng đất theo án tuyên”. Thực sự chúng tôi không thể hiểu nổi lại có câu văn này trong quyết định của Chi cục THADS huyện Trảng Bàng? Càng không thể hiểu nổi nó là loại câu gì, chẳng lẽ lại là câu “ra lệnh” cho UBND huyện cấp quyền sử dụng đất cho bà Huệ (?!).

Trong khi đó, về phía Cục THADS tỉnh thì sau khi bà Nguyễn Thị Đuộc (con bà Huệ) có đơn yêu cầu thi hành án, ngày 29.12.2011 Cục đã có Thông báo (số 41/QĐ-CTHS) về việc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án. Thông báo này khẳng định “Việc cấp giấy và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án tuyên là do UBND huyện Trảng Bàng giải quyết. Vậy bà liên hệ UBND huyện Trảng Bàng để được rõ hơn”.

Cục THADS tỉnh từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án của gia đình bà Huệ, nhưng lại uỷ thác cho Chi cục THADS Trảng Bàng thi hành án. Để rồi sau khi ra quyết định thi hành án “theo đơn yêu cầu”, Chi cục này lại “giáng một đòn” làm choáng váng bà già 86 tuổi bằng cách ra thông báo (số 208/TB-THA) về việc nộp phí thi hành án hơn 83,2 triệu đồng, và “ra thời hạn” nộp tiền là 10 ngày, kèm theo câu: “Nếu hết thời hạn mà bà không nộp số tiền phí nêu trên, Chi cục THADS huyện Trảng Bàng sẽ giao quyền sử dụng đất cho bà, đồng thời sẽ tiến hành kê biên tài sản là quyền sử dụng đất và bán đấu giá để đảm bảo thu hồi tiền phí thi hành án” (?!).

Khi được đọc thông báo này, chúng tôi không biết Chi cục THADS Trảng Bàng căn cứ vào đâu để nói “sẽ giao quyền sử dụng đất cho bà” (?!). Có điều, đến bây giờ thì chúng tôi tin chắc rằng trước sau gì bà Nguyễn Thị Huệ cũng có “sổ đỏ” cho mảnh đất mà gia đình bà đã sử dụng 67 năm qua. Còn việc thi hành án hình như không có tác dụng.

ĐỨC NHÃ