Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Không có người nước ngoài nào sở hữu đất ở nơi nhạy cảm! 

Cập nhật ngày: 28/05/2020 - 14:16

Trước thông tin lo ngại người nước ngoài sở hữu đất đai ở nơi nhạy cảm an ninh quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà khẳng định chưa thấy một cá nhân nước ngoài nào được cấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

Chiều 27-5, bên hành lang Quốc hội, Bộ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) Trần Hồng Hà đã thẳng thắn, cởi mở trao đổi với một số cơ quan báo chí xoay quanh thông tin về những lô đất ở Đà Nẵng, vấn đề đất đai liên quan đến người nước ngoài cũng như liên quan đến yếu tố quốc phòng an ninh

Phóng viên: Thưa Bộ trưởng Trần Hồng Hà, Bộ trưởng có ý kiến gì về việc người nước ngoài tiếp cận đất đai ở một số khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng ở Đà Nẵng, như báo chí đã nêu?

Bộ Trưởng Trần Hồng Hà: Trong những ngày qua, qua báo chí đưa tin một số khu vực đất đai liên quan đến nhạy cảm an ninh quốc phòng, người nước ngoài được tiếp cận và được cấp quyền sử dụng đất. Đó là thông tin dư luận rất quan tâm. Ở góc độ quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường, tôi cũng hết sức chú ý đến vấn đề này.

Sáng 27-5, Tổng cục quản lý đất đai đã có buổi làm việc với Bộ Quốc phòng. Nói về góc độ pháp luật, tôi khẳng định cá nhân người nước ngoài không được cấp quyền sử dụng đất đai. Luật Đất đai 2003, 2013 đều quy định người nước ngoài không phải là đối tượng sử dụng đất.

Do đó, người nước ngoài không được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên không có việc chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nước ngoài tại Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà (thứ hai từ trái q) trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội - Ảnh: Đình Trung

Luật chỉ quy định đối với các pháp nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với trường hợp góp vốn, cổ phần thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng cổ phần, góp vốn theo pháp luật về đầu tư. Ví dụ như doanh nghiệp đại chúng niêm yết trên sàn thì nhà đầu tư mua được cổ phần. Tuy nhiên, giấy chứng nhận trong trường hợp này là cấp cho pháp nhân là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo pháp luật của Việt Nam chứ không cấp cho cá nhân nước ngoài. Trường hợp Bộ Quốc phòng nêu thuộc nhóm này.

Như Công ty của Thái Lan, họ mua cổ phần 100% về bia tức là họ mua toàn bộ vốn hóa, trong đó có quyền sử dụng đất đai được vốn hóa nhưng không có nghĩa là cá nhân ông chủ của doanh nghiệp đó được quyền sử dụng đất đai. Ở đây phải là một tổ chức. Chủ trương của ta là tạo điều kiện, cơ sở pháp lý bình đẳng, thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài.

Pháp luật Việt Nam bảo hộ cho họ được lập công ty, được tiếp cận đất đai để đầu tư như người Việt. Còn cá nhân người nước ngoài thì không được cấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

Thời gian vừa qua, chúng ta cũng chú ý đến kết hợp phát triển kinh tế đảm bảo an ninh quốc phòng. Điều 13 của Nghị định 43, Điều 58 của Luật Đất đai 2013, quy định đối với những khu vực quy hoạch liên quan đến các vị trí chiến lược an ninh quốc phòng, bất cứ dự án nào từ khâu quy hoạch đến khi cấp giấy chứng nhận đều phải xin ý kiến của Bộ Quốc phòng, Ngoại giao, Công an.

Sau khi luật Đất đai 2013 ban hành, Bộ TN-MT đã tiến hành kiểm tra, rà soát rộng trong cả nước, đặc biệt là vị trí tiền tiêu, có vị trí chiến lược như hải đảo, biên giới thì đã rà soát lại. Chúng tôi đã phát hiện ra rất nhiều trường hợp do Luật Đất đai 2003 chưa quy định về vấn đề an ninh quốc phòng nên chưa hỏi ý kiến về vấn đề cho thuê rừng.

Sau khi kiểm tra rà soát, thực hiện ý kiến của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các địa phương đã thực hiện nghiêm và những trường hợp giao không đúng thì đã thu lại hoặc chuyển sang doanh nghiệp Việt Nam.

Còn Đà Nẵng, ngay từ năm 2019, cá nhân tôi đã yêu cầu Đà Nẵng rà soát kiểm tra trên toàn bộ TP. Quá trình rà soát phát hiện có hiện tượng một số khu liên quan đến an ninh quốc phòng có doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài. Nhưng khi kiểm tra thì thấy họ không vi phạm giao đất cho cá nhân. Tất cả hình thức giao đất đều cho pháp nhân - doanh nghiệp. Việc giao đất đó cho 2 trường hợp, thứ nhất là doanh nghiệp liên doanh; thứ 2 là mua cổ phần và họ đầu tư trên lĩnh vực bất động sản, kinh doanh thương mại.

Chúng tôi cũng phát hiện tại đấy có những vi phạm, như giao cho tổ chức nhưng đất đó là đất ở thì không thể kinh doanh được hoặc là khu vực ấy chưa thực hiện nghiêm Luật Đất đai 2013 mà vẫn theo Luật 2003, nghĩa là chưa hỏi ý kiến các cơ quan an ninh quốc phòng về vấn đề doanh nghiệp hoạt động ở khu vực đó có liên quan đến vấn đề gì hay không…

Sau khi kiểm tra, chúng tôi cùng với Đà Nẵng, đặc biệt là đã làm việc với các Bộ ngành có liên quan để có biện pháp xử lý. Quá trình rà soát, nếu doanh nghiệp đáp ứng các quy định của pháp luật thì sẽ tạo điều kiện cho họ hoạt động, và ngược lại, nếu không đủ điều kiện, có sai phạm thì cơ quan chức năng sẽ yêu cầu doanh nghiệp thay đổi, điều chỉnh hoặc phải chuyển giao lại cho Việt Nam.

Cho đến nay, theo báo cáo của Đà Nẵng, toàn bộ các dự án có yếu tố người nước ngoài đang hoạt động dưới các hình thức là các doanh nghiệp, nếu có thiếu sót thì đã được khắc phục. Nhiều trường hợp đã chuyển giao lại cho người Việt Nam. Việc xử lý những vi phạm trên đến nay đã xong và Bộ TN-MT, TP Đà Nẵng đã báo cáo lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Nguồn NLDO