Pháp luật   Bạn đọc

Trả lời ðơn của ông Nguyễn Thanh Hưng và bà Trần Thị Nguyên:

Cơ quan Thi hành án cho biết việc xử lý tài sản là đúng quy định pháp luật 

Cập nhật ngày: 25/06/2021 - 07:56

BTN - Tại thời điểm CHV ban hành quyết định kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án, Chi cục THADS thụ lý và tổ chức thi hành án đối với ông Hưng, bà Nguyên về 18 hồ sơ như đã nêu trên; nếu tính luôn số tiền lãi suất phát sinh do chậm thi hành án, số tiền và lãi suất vay tại một ngân hàng thì tổng cộng số tiền phải thi hành án là gần 2,7 tỷ đồng.

Một góc hiện trạng đất đã được bán đấu giá thành.

Ðơn của ông Nguyễn Thanh Hưng và vợ là bà Trần Thị Nguyên, ngụ khu phố An Thới, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng trình bày: trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng không thông báo đầy đủ cho vợ chồng ông Hưng nhiều loại giấy tờ liên quan đến việc bán đấu giá tài sản; tài sản bị kê biên và đưa ra bán đấu giá vượt nghĩa vụ phải thi hành án với giá trị lớn, trong khi gia đình vẫn còn tài sản là diện tích đất trống kế bên nhà đủ để bảo đảm thi hành án; ngay sau khi kê biên, chấp hành viên (CHV) không cho thoả thuận về giá hoặc tổ chức thẩm định giá theo quy định... Việc thi hành án như vậy đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án.

Ðối với vụ việc này, sau khi nghiên cứu hồ sơ tổ chức thi hành án, báo cáo của Chi cục THADS, đối chiếu các quy định của pháp luật, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh (Cục THADS tỉnh) có ý kiến như sau:

Về thông báo thi hành án, kê biên, quyền được thoả thuận giá, tổ chức thẩm định giá, thủ tục xử lý tài sản, CHV đã thực hiện phù hợp quy định tại Ðiều 39, Ðiều 42, Ðiều 98, Ðiều 101, Ðiều 104 Luật Thi hành án dân sự.

Cụ thể, CHV sau khi thụ lý, ban hành quyết định thi hành án với tổng cộng 18 hồ sơ theo đơn yêu cầu của những người được thi hành án. Tổng số tiền phải thi hành khoảng 1,8 tỷ đồng và hơn 33 triệu đồng án phí. CHV đã tống đạt quyết định đến ông Hưng, bà Nguyên (có biên bản giao nhận vào ngày 18.7.2013 và các biên bản giao nhận khác thể hiện tại hồ sơ); thông báo nghĩa vụ phải thi hành án cho ông Hưng, bà Nguyên biết tại biên bản giải quyết thi hành án ngày 21.8.2013, ngày 11.11.2013.

Về việc giao quyết định kê biên, thủ tục xử lý tài sản, thoả thuận giá, lựa chọn tổ chức thẩm định giá, CHV trực tiếp giao Quyết định kê biên, xử lý tài sản số 23 ngày 15.12.2013 cho bà Trần Thị Nguyên ký nhận cùng ngày.

Tại buổi kê biên tài sản vào ngày 24.12.2013, có ông Hưng và bà Nguyên cùng tham dự, thông báo về việc thoả thuận giá tài sản kê biên QSDÐ và các tài sản khác gắn liền với đất, bà Trần Thị Nguyên trực tiếp ký nhận vào biên bản ngày 27.12.2013.

Theo quy định tại Ðiều 98 Luật Thi hành án dân sự, ngày 2.1.2014, CHV trực tiếp lập biên bản thoả thuận giá tài sản kê biên, tổ chức thẩm định giá với sự có mặt của những người được thi hành án và người phải thi hành án là vợ chồng ông Hưng, kết quả thoả thuận không thành.

Tài sản kê biên được ký hợp đồng thẩm định giá theo đúng quy định. Theo đó, tại Chứng thư thẩm định giá số 01088 ngày 13.5.2014 của Công ty TNHH tư vấn Ðông Việt được bà Trần Thị Nguyên ký nhận ngày 30.5.2014.

Do các tài sản có tranh chấp và khởi kiện tại Toà án, nên sau khi có kết quả xét xử, Chi cục THADS chỉ xử lý một tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 6.328,5m2. Tài sản này đã được bán đấu giá thành vào ngày 19.8.2014, với giá khoảng 608 triệu đồng. Số tiền này sau khi thanh toán các chi phí cưỡng chế, phần còn lại trả nợ vay ngân hàng theo quy định.

Những tài sản khác được lưu thông theo kết quả xét xử của Toà án, không xử lý các tài sản gồm QSDÐ diện tích 4.369,5m2; QSDÐ diện tích 472,1m2 cùng tài sản trên đất; một phần của QSDÐ diện tích 2.690,4m2 và tài sản trên đất.

Tại Chứng thư thẩm định giá số 0605 ngày 24.9.2020 và Thông báo số 14 ngày 1.10.2020 về kết quả thẩm định giá tài sản là một phần diện tích 1.521,8m2 cùng tài sản trên đất nằm trong QSDÐ diện tích 2.690,4m2.

Nội dung này được thông báo theo hình thức niêm yết do ông Hưng, bà Nguyên không có mặt tại nhà, khoá cổng (niêm yết ngày 2.10.2020). Kết thúc thủ tục niêm yết, tài sản được đưa ra bán đấu giá theo quy định. Ðến ngày 24.11.2020, CHV giao Thông báo số 50 về việc thoả thuận tổ chức bán đấu giá tài sản, ông Hưng không nhận, không ký tên, có sự chứng kiến của địa phương.

Ngày 2.12.2020, CHV lập biên bản thoả thuận tổ chức bán đấu giá tài sản, ông Hưng và bà Nguyên vắng mặt nên việc thoả thuận không thành. QSDÐ diện tích 1.521,8m2 và tài sản trên đất được đưa ra bán đấu giá thành với số tiền khoảng 2,6 tỷ đồng.

Các lần đưa tài sản này ra bán đấu giá, thủ tục giao tài sản cho người mua trúng giá, đều được CHV thông báo bằng hình thức giao trực tiếp cho con của ông Hưng ký nhận, đồng thời thực hiện niêm yết theo Ðiều 42 Luật Thi hành án dân sự.

Hiện ông Hưng, bà Nguyên có đơn xin “chuộc” lại tài sản này với giá 3,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, do tình hình đại dịch Covid- 19 đang diễn biến phức tạp; vụ việc có nhiều người được thi hành án nên Chi cục THADS chưa tổ chức được việc cho các bên gặp nhau để thoả thuận.

Về việc ông Hưng và bà Nguyên cho rằng tài sản đã kê biên không tương đương với nghĩa vụ phải thi hành án là không đúng. Trong trường hợp này, việc xử lý tài sản là phù hợp theo quy định tại Ðiều 13 Nghị định số 62 ngày 18.7.2015 của Chính phủ.

Tại thời điểm CHV ban hành quyết định kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án, Chi cục THADS thụ lý và tổ chức thi hành án đối với ông Hưng, bà Nguyên về 18 hồ sơ như đã nêu trên; nếu tính luôn số tiền lãi suất phát sinh do chậm thi hành án, số tiền và lãi suất vay tại một ngân hàng thì tổng cộng số tiền phải thi hành án là gần 2,7 tỷ đồng. Mặt khác, ngoài các bản án có trước khi kê biên tài sản thì Chi cục THADS còn thụ lý thêm 5 bản án với tổng số tiền phải thi hành khoảng 209 triệu đồng, án phí hơn 25 triệu đồng.

Trong bốn tài sản đã kê biên thì có ba tài sản được thực hiện theo quy định tại Ðiều 75 Luật Thi hành án dân sự, CHV cho những người có liên quan đến tài sản kê biên thực hiện quyền khởi kiện tranh chấp.

Sau khi có kết quả khởi kiện, Chi cục THADS chỉ xử lý tài sản là QSDÐ diện tích 6.328,5m2; QSDÐ và tài sản trên đất diện tích 1.521,8m2 thuộc một phần trong QSDÐ diện tích 2.690,4m2. Ðối với các tài sản khác, CHV đã thu hồi một phần quyết định kê biên tại các Quyết định thu hồi số 72 ngày 12.7.2016, Quyết định số 29 ngày 18.2.2019.

Tóm lại, tổng giá trị hai tài sản đã được kê biên xử lý, khi thẩm định giá có giá gần 3,3 tỷ đồng. Xét về nghĩa vụ của ông Nguyễn Thanh Hưng và bà Trần Thị Nguyên phải thi hành án với tổng số tiền hơn 2,9 tỷ đồng, cộng với lãi suất chậm thi hành án, lãi suất phát sinh hợp đồng tín dụng tại ngân hàng đến ngày nay; cùng với việc phải giảm giá tài sản theo quy định trong trường hợp không có người đăng ký mua, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó... nên việc xử lý tài sản như trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của ông Hưng và bà Nguyên, tại Thông báo số 15 ngày 9.6.2021 của Chi cục THADS đã không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại của ông, bà do thời hiệu khiếu nại đã hết theo quy định tại khoản 4, Ðiều 141 Luật Thi hành án dân sự.

Quốc Sơn