Pháp luật   An ninh - Quốc phòng

Hiểu đúng về xử phạt lỗi “xe không chính chủ”

Cập nhật ngày: 25/03/2020 - 08:27

BTN - Những ngày qua, nhiều ý kiến lo lắng việc chạy xe của ông bà, cha mẹ, người trong gia đình sẽ bị xử phạt nặng do vi phạm lỗi “xe không chính chủ”.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Nghị định 100/2019/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2020 quy định mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đều không có cụm từ “xe không chính chủ”. Trên thực tế, cụm từ “xe không chính chủ” là cách nhiều người dùng để gọi hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua, được cho, tặng tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô, ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Khoản 4, Điều 30, Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 - 1,2 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, cho, tặng, phân bố, điều chuyển, thừa kế tài sản. Đối với xe ô tô, mức xử phạt từ 2 - 4 triệu đồng với cá nhân, từ 4 - 8 triệu đồng với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô.

Đại diện Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh cho biết, khoản 10, Điều 80, Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, việc xác minh để phát hiện hành vi vi phạm không làm thủ tục đăng ký sang tên xe được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; qua công tác đăng ký xe.

Như vậy, hoàn toàn không có chuyện chạy xe của ông bà, cha mẹ trong gia đình sẽ bị xử phạt nặng do vi phạm lỗi “xe không chính chủ”. Việc xử phạt chủ yếu được xác định khi phương tiện có liên quan đến tai nạn giao thông và người sở hữu xe hiện tại đã mua bán xe từ người khác mà không hoàn thành các giấy tờ chuyển đổi theo quy định.

Theo quy định, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe. Tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải xuất trình giấy tờ theo quy định như giấy khai đăng ký xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe.

PHƯƠNG THẢO