Truyện ngắn: Xin chữ

Cập nhật ngày: 19/12/2010 - 10:41

Truyện ngắn của Nguyễn Đức Thiện

Tết vừa rồi, nổi hứng Thoại có làm một đôi câu đối để khai bút. Thoại đã dùng máy vi tính trình bày khá đẹp nhưng khi treo lên tường cứ thấy nó chông chênh làm sao ấy. Đành rằng làm câu đối theo chữ quốc ngữ, nhưng đã là câu đối mà viết để treo tường, nhất định phải mang vóc dáng của lối viết cổ. Thoại thử ra tay, mang tất cả những tờ lịch có in chữ thư pháp ra để bắt chước. Song thật đáng thương cho Thoại, chẳng có hồn có vía gì khi những chữ được Thoại bôi ra trên giấy.

Thoại bỗng nhớ đến thầy Thế. Thầy là một cộng tác viên chuyên viết bài cho mục “Đông Tây kim cổ” cho tờ báo nơi Thoại làm biên tập. Mục này thầy là người sáng lập. Thầy mà không viết chắc không ai viết được. Thầy sưu tầm tất cả những chuyện đã từng in trong sách, in trên báo, thấy có chuyện gì tác động đến dư luận chung hoặc có ý nghĩa giáo dục là thầy chép lại và sau đó là những lời bình thật ngắn nhưng thật sâu sắc. Mỗi tuần một chuyện. Gần chục năm nay, thầy không bỏ mục lần nào. Thầy không nói, nhưng ai cũng biết xứ này thầy là người gần như là duy nhất am tường chữ Hán. Vì thế mà hôm nay, Thoại có mặt tại nhà thầy Thế. Khi gặp được thầy Thế, nhất định anh sẽ có một câu đối từ ngọn bút của thầy. Với bút pháp hoành tráng nhưng phóng khoáng của thầy sẽ tôn thêm đôi câu đối của Thoại lên và nó sẽ làm cho căn nhà của Thoại ẩn chứa một nét văn hoá mà ai cũng thèm muốn.

Thoại rút từ trong chiếc cặp một mảnh giấy. Không hiểu sao, Thoại bỗng thấy mình bé nhỏ trở lại. Người thầy trước mặt anh mảnh khảnh. Dáng thư sinh còn lại trên thân hình mảnh khảnh ấy. Mái tóc đã điểm sương. Anh đưa tờ giấy bằng cả hai tay và đầu hơi cúi xuống. Thầy Thế cũng đưa cả hai tay đón tờ giấy mong manh của Thoại. Thầy xoay lại ngồi cho ngay với ngọn đèn bàn mới được bật sáng và hai tay nâng tờ giấy lên ngang mắt. Phút im lặng khá dài. Thầy bỗng buông:

- Được đấy. Một chút băn khoăn. Một chút răn mình. Nhưng chứa đựng một hoài bão lớn nữa… Anh muốn viết văn hả…

- Lực bất tòng tâm, thưa thầy…

- Biết thế là tốt. Này, tôi cũng có một câu đối tết năm nay đấy, nhưng nhớ trong lòng thôi không viết ra. Nó là thế này: “Gặp năm gà, sớm hôm bươi móc, lượm từng hạt liệu có đầy chữ nghĩa”, “Mang lốt chuột, đêm tối vật vờ, gom cả đời sao còn thiếu văn chương”. Chữ nghĩa văn chương mà, cả đời làm cũng không hết việc, cả đời còn nợ đấy.

Thầy vừa nói vừa đứng dậy, lấy chai nước lọc, mở cái bù đài, mở luôn cả cái nút, ghé đổ vào nghiên mực, ở đó còn hơn một nửa cây mực nho. Thoại đỡ lấy:

- Thầy để tôi mài mực cho.

- Anh biết mài mực?

- Mài mực thôi mà. Sao lại không biết…

- Ấy không được. Ngày xưa, tôi phải mất ba năm mài mực, thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi ấy mà, mới cho tôi cầm bút viết lên giấy đó…

- Ba năm…

Ông đồ (ảnh minh hoạ)

- Ba năm là còn ít đó. Thầy tôi là một ông đồ nổi tiếng. Một hôm ông có khách. Khách là một ông đồ già, hơn thày tôi đến vài tuổi. Hai cụ gặp nhau xá dài, thắp hương án xong mới ngồi trò chuyện. Ngồi lâu lắm, tôi mới thấy thầy tôi đứng dậy vào thư phòng lấy ra một tờ giấy hồng điều. Lúc thầy quay vào nhà lấy nghiên mực, tôi sốt sắng đỡ lấy. Thầy tôi trừng mắt: “Đâu đến lượt con”. Thế rồi trong lúc thầy tôi mài mực thì ông đồ kia ngồi vuốt râu, mắt nhắm nghiền lại. Khi mực mài xong, ông đồ kia mới đứng dậy, hướng lên hương án, xá ba xá mới cầm lấy cây bút. Rồi tay ông đưa tới. Phút chốc thôi, ông hạ bút và từ từ ngồi xuống ghế. Lúc đó ông giống như ông tiên râu dài ấy. Đến giờ tôi còn nhớ. Trên bàn thờ thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi đó, chữ ấy vẫn còn đó. Lúc sắp qua đời, thầy tôi dặn đi dặn lại: bàn thờ thầy không cần phải có hình ảnh gì cả, một chữ đó thôi là được. Chữ “Trí”. Hôm ấy, thầy tôi xá ông đồ mấy xá liền. Thầy tôi lộng chữ ấy vào khung kiếng treo ngay chính giữa nhà. Sau này tôi có hỏi, thầy tôi bảo: “Đất nước đang trong thời loạn. Chữ gì cũng không hợp bằng chữ “trí”. Chiến tranh tâm làm sao yên, đức làm sao trọn, thiện thì không lẽ trốn chạy cái ác. Phúc, lộc, thọ sao được khi bom đạn nổ uỳnh oàng khắp nước Nam ta. Nhẫn để kẻ cướp nó đè đầu cưỡi cổ mình sao. Chữ trí để răn bảo người ta nuôi chí bền mà làm cho đất nước sớm được thanh bình. Có thanh bình rồi chữ gì cũng có hết”. Nghe thầy tôi dạy mà thấm thía. Các cụ nhà mình là như thế đó. Viết một chữ thôi cũng phải đắn đo, chiêm nghiệm đã rồi mới viết. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái dáng ông đồ bạn vong niên của thầy tôi ngồi nhắm mắt vuốt râu. Hồi tôi còn trẻ, thầy tôi còn kể cho tôi nghe một chuyện thế này nữa. Bằng trang lứa với tôi đã có một người bị cha đẻ đánh cho một trận ra trò đó. Cũng chỉ vì tính hay khoe khoang thôi. Cái chữ nó quan trọng lắm. Người ta thành người được hay không là nhờ cái chữ đấy. Thế mà bây giờ có người chẳng coi cái chữ ra gì cả. Hôm vừa rồi, có một cậu học trò của tôi đến đây. Cậu ấy học tôi hồi còn nhỏ. Rồi đi kháng chiến, bây giờ làm chức to lắm. Đến bằng xe du lịch hẳn hoi. Tưởng lâu ngày nhớ thầy thì đến thăm thầy, ai dè, cậu ấy đến xin chữ. Cậu ấy chỉ xin một chữ “tâm” thôi. Cậu ấy bảo tôi thế này: “Em mới cất xong cái nhà. Phòng khách nhà em lớn lắm. Thằng bạn người Campuchia bây giờ làm quan đầu tỉnh bên ấy, tặng em một cặp ngà voi, mỗi ngà dài cả thước. Em đã trưng ở giữa nhà. Rất oai. Nhưng vẫn thiếu một cái gì đó. Thế là em nhớ tới thầy. Chữ bây giờ bán ngoài chợ thiếu gì. Nhưng em không thích. Em thích chữ của thầy. Nó hoành tráng lắm. Mà em chỉ lấy mẫu thôi. Từ mẫu ấy, em kêu thợ đúc đồng đến đúc cho em, dát vàng lên nữa. Thầy thử hình dung xem đôi ngà voi oai vệ, đỡ lấy chữ “tâm” dát vàng lộng lẫy, thì còn gì bằng. Nó sẽ đập ngay vào mắt bất cứ ai khi bước chân vào phòng. Và đương nhiên nhìn cặp ngà voi, nhìn con chữ là thấy sự uy nghi, đáng nể, thưa thầy”. Nghe cậu ta nói, tôi suýt nữa thì bật cười. Trời đất, chữ tâm mà thể hiện sự uy nghi sao? Cậu ta xin chữ “tâm” mà tâm cậu ấy lại như thế thì còn gì là tâm nữa.

- Rồi thầy có viết không? - Thoại hỏi.

- Viết. Viết chớ. Nhưng không phải chữ “tâm” mà là chữ “hạnh”. Tôi viết như thế để cậu ta hiểu như thế nào thì hiểu. Hiểu là hạnh phúc cũng được, nhưng sâu xa hơn thì cậu ấy phải hiểu là “hạnh kiểm”. Tôi muốn bảo cậu ấy phải xem lại hạnh kiểm mình trước. Bây giờ tôi mừng khi thấy đến trường nào cũng có hàng chữ dăng ngang đập vào mắt người ta: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Cậu ta đến xin tôi chữ “tâm” mà chẳng hiểu chữ tâm ấy dùng để làm gì…

- Rồi sao nữa thầy? - Thoại hồi hộp hỏi.

- Cậu ta không đến lấy mà sai cậu lái xe đến lấy. Cậu lái xe chẳng biết ất giáp gì, mang về. Chỉ tiếng đồng hồ sau chiếc xe du lịch lại đậu ở cửa nhà tôi. Bước chân vào tới cửa cậu ta đã oang oang: “Sao thầy lại viết chữ này. Thầy làm tôi bị rủa oan. Ông ấy không nhận, biểu tôi kêu thầy viết chữ khác, đúng chữ mà ổng biểu. Thầy viết đi, lát tôi quay lại”. Nét mặt cậu ta hằm hằm. Khổ, gần mặt trời cậu ta tưởng mình cũng là mặt trời chắc. Cậu ta vội vã bước ra. Tôi kéo cậu ấy lại và bảo: “Nhờ cậu về báo lại, tôi chỉ có thể viết một chữ ấy thôi”. Rồi không thấy cậu ấy đến gặp lại tôi nữa. Cảm ơn!

Thầy Thế gác cây mực nho lên thành nghiên, đến bên đống giấy tờ phía góc bàn bên kia, lật một đống giấy tờ và lấy ra một tờ giấy cũng mỏng như tờ giấy mà Thoại đưa cho thầy. Thoại đón lấy. Trên mặt giấy là những con chữ chạy thẳng hàng. Những nét chữ đều đặn, sáng sủa và từng nét rõ ràng:

 “Mấy triệu năm mông muội/ Mới tìm thấy chữ cho người/ Thế mà thấy/ Có người cứ mang chữ ra mà đùa/ Tưởng như đồ ăn sẵn/ Tưởng như mớ rau, miếng thịt/ Bỏ lên bếp mà nấu, nướng, chiên, xào/ Nên chữ cứ rẻ như bèo/ Lại có người dùng chữ/ Như dùng gái trong nhà thổ/ Đĩ thoã điên cuồng/ Buông ra là quên sạch./ Rồi cũng có người/ Dùng bạc triệu mà đi mua chữ/ Mang về đặt trên bàn thờ/ Coi như linh vật/ Nhưng lại quên cúng kiếng mỗi ngày/ Nên chữ cứ lạnh tanh/ Chao ôi/ Ai biết/ Nếu con chữ ngấm vào người/ Thành xương, thành thịt/ Thành máu, thành hồn/ Mới là chữ/ Mới là chữ/ Mới là chữ biết không?”.

 Thoại lạnh người. Một năm anh xài không biết bao nhiêu là chữ. Chữ của mình và chữ của người, nhưng đã bao giờ anh nghĩ mình xài chữ ra sao. Thầy Thế đã mài xong nghiên mực. Thầy kéo ống đựng bút về trước mặt mình, cúi xuống để mắt có thể nhìn kỹ hơn những cây bút và tìm chọn một cây cho thích hợp. Đã rút ra mấy cây rồi nhưng sau khi vuốt vuốt những búp lông đầu ngọn bút, hình như thầy vẫn không ưng ý. Còn Thoại đã bắt đầu thấy lúng túng vì không còn biết nói chuyện gì với thầy nữa. Nhưng thầy lại lên tiếng:

- Anh Thoại này, anh có nhớ trong Chuyện Đông Tây kim cổ của tôi có nhắc đến ông Phạm Quý Thích * ở thế kỷ 19 không?

- Thầy viết nhiều quá, tôi không nhớ nổi.

- Cũng phải. Tôi kể và tôi viết nhiều khi còn quên. Nhưng chuyện Phạm Quý Thích thì tôi không quên đâu. Năm 1813, ông nghè Phạm Quý Thích được nhà vua cử làm giám khảo cuộc thi ở Nghệ An. Chấm thi xong ông về dinh nghỉ. Quan lại, sĩ tử đến vấn an ông rất đông vì ở đây họ quý trọng ông lắm. Ông đau yếu nên phải dựa gối nằm nghiêng mà tiếp khách. Lúc luận bàn văn chương, ông mới đọc cho những người quanh mình nghe một bài văn ông làm ca ngợi Quan Vân Trường cầm đuốc trong truyện Tam quốc diễn nghĩa. Mọi người nhao nhao khen. Nhất là khi ông đọc hai câu:

Quỷ Tào Tháo bình sinh thẹn muốn chết

Thần tướng quân muôn thuở vẫn như còn.

Có một người bảo với ông rằng, cũng chuyện ấy, ở Nghệ An đã có một cậu bé đã làm một bài văn. Phạm Quý Thích kêu người ấy đọc thử nghe chơi. Nghe đến hai câu:

Nhen lòng son rực rỡ, trời đất năm canh

In chiếc bóng lênh đênh, gió sương bốn vách.

Phạm Quý Thích vội vàng nhổm dậy chắp tay nói với mọi người: “Cậu bé ấy hơn tôi nhiều”. Cậu bé ấy là Nguyễn Hồng Hàn, 13 tuổi, ở huyện Can Lộc. Anh Thoại này, anh có biết vì sao ông Phạm Quý Thích lại phục cậu bé như vậy không. Phân tích thì dài nhưng chỉ nói với anh một ý thôi. Phạm Quý Thích phải mượn Tào Tháo mới nâng được Quan Vân Trường lên. Còn Nguyễn Hồng Hàn, chẳng cần hạ ai mà Quan Vân Trường vẫn oai phong lẫm liệt. Nhưng cái này quan trọng hơn: Khi Phạm Quý Thích tỏ lòng thán phục cậu bé Hàn thì mọi người càng phục ông hơn. Hậu sinh khả uý mà. Khiêm nhường làm ông càng thêm cao đạo. Chính vì thế mà tết rồi tôi có làm một đôi câu đối, nhưng chỉ để nhớ nằm lòng thôi, không dám viết ra, sợ người đời nhìn thấy, bảo tôi cao ngạo…

Thầy Thế đã lựa xong cây bút. Thầy vung tay lên toan hạ xuống chấm vào nghiên mực. Thoại vội đứng dậy đỡ lấy tay thầy:

- Dạ thưa, thôi ạ!

- Cái gì thôi?

- Dạ thôi, thầy đừng viết nữa. Cho tôi xin lại mảnh giấy…

- Sao thế?

Thoại lẳng lặng không nói thêm lời nào và đưa hai tay, cúi đầu nhận lại mảnh giấy thầy Thế đưa lại.

Lát sau, Thoại chào thầy ra về. Chiếc xe honda của Thoại từ từ lách ra khỏi cổng. Thầy Thế đứng nhìn theo, cười và gật đầu vẻ ưng ý. Trên trán thầy lấm tấm mấy giọt mồ hôi.

NĐT

* Chi tiết về ông nghè Phạm Quý Thích được sử dụng từ cuốn: CHUYỆN ĐÔNG TÂY KIM CỔ của Phan Thế Phiệt, nguyên giáo viên Trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, do Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản.

 


Liên kết hữu ích