Tiêu chuẩn mới về cơ sở vật chất trường học:

Có quá xa vời? 

Cập nhật ngày: 16/10/2019 - 10:32

BTN - Đối chiếu với các tiêu chuẩn trong bản dự thảo, hiện tại, hầu như không trường học nào đáp ứng được. Chưa kể một số quy định trong dự thảo không phù hợp với Nghị quyết 19 năm 2017 của Trung ương Đảng về tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp.

Giờ tập viết của học sinh lớp 1 ở xã Thành Long, huyện Châu Thành.

Theo quy định mới (đang lấy ý kiến góp ý), đối với bậc học mầm non, mỗi trường có quy mô tối thiểu 9 nhóm, lớp và tối đa 20 nhóm, lớp. Căn cứ điều kiện các địa phương, có thể bố trí các điểm trường ở những địa bàn khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ đến trường nhưng trong một xã, phường, thị trấn bố trí không quá 5 điểm trường. Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số nhóm, lớp, số trẻ em và đặc điểm vùng miền với bình quân tối thiểu 12m2 cho một học sinh đối với khu vực đồng bằng, trung du; 8m2 cho một học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã và miền núi.

Dự thảo thông tư quy định các trường mầm non đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 1 bảo đảm các tiêu chuẩn trường quy mô đến 14 nhóm, lớp, có tối thiểu 1 phòng giáo dục nghệ thuật và 1 phòng giáo dục thể chất. Đối với trường có quy mô lớn hơn 14 nhóm, lớp có tối thiểu 1 phòng giáo dục nghệ thuật, 1 phòng giáo dục thể chất và 1 phòng đa chức năng. Diện tích sân vườn (cây xanh, sân chơi) không nhỏ hơn 40% tổng diện tích của trường.

Mỗi điểm trường (nếu có) không ít hơn 2 nhóm/lớp. Để đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 2, trường mầm non quy mô 14 nhóm, lớp, có tối thiểu 1 phòng giáo dục nghệ thuật, 1 phòng giáo dục thể chất và 1 phòng đa chức năng. Đối với trường có quy mô lớn hơn 14 nhóm, lớp có tối thiểu 2 phòng giáo dục nghệ thuật, 2 phòng giáo dục thể chất và bảo đảm bố trí riêng cho từng nhóm độ tuổi. Ngoài các yêu cầu trên, trường mầm non đạt chuẩn mức độ 1, 2 còn phải thoả mãn nhiều tiêu chí khác về cơ sở vật chất.

Đối với giáo dục phổ thông, cấp tiểu học, mỗi trường có quy mô tối thiểu 10 lớp và tối đa 40 lớp. Căn cứ điều kiện các địa phương, có thể bố trí các điểm trường ở những địa bàn khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường. Mỗi đơn vị hành chính cấp xã bố trí không quá 5 điểm trường. Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh và đặc điểm vùng miền với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh đối với khu vực đồng bằng, trung du; 6m2 cho một học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã và miền núi.

Đối với trường có tổ chức nội trú, diện tích khu đất cho các hạng mục công trình phục vụ nội trú bảo đảm 6m2 cho một học sinh nội trú. Các hạng mục công trình phục vụ trực tiếp cho các hoạt động dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục cao không quá 3 tầng; bảo đảm điều kiện cho học sinh khuyết tật tiếp cận sử dụng. Về khối phòng học tập, phòng học bảo đảm mỗi lớp có một phòng học riêng, có thể sử dụng làm nơi nghỉ trưa cho học sinh (nếu có).

Phòng học được trang bị đầy đủ bàn, ghế học sinh đúng quy cách và đủ chỗ ngồi cho học sinh, bàn, ghế giáo viên, hệ thống đèn và hệ thống quạt; hệ thống tủ đựng hồ sơ, thiết bị dạy học. Trường tiểu học có tối thiểu 1 phòng nghệ thuật, trang bị đầy đủ các thiết bị theo quy định hiện hành cùng nhiều phòng khác như phòng khoa học - công nghệ; phòng học tin học, phòng học ngoại ngữ…

Trường tiểu học đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 1 bảo đảm các quy định có phòng làm việc riêng cho hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng, phòng của các tổ chức Đảng, đoàn thể… Trường có quy mô lớn hơn 20 lớp có tối thiểu 2 phòng nghệ thuật, trong đó 1 phòng học mỹ thuật, 1 phòng học âm nhạc cùng nhiều phòng khác như phòng học tin học, phòng học ngoại ngữ… M

ỗi điểm trường (điểm lẻ) có tối thiểu 2 lớp học. Tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 2 phải có thêm khối phòng hỗ trợ học tập gồm phòng truyền thống và phòng hoạt động Đội bố trí riêng biệt. Nhà trường còn phải có phòng giáo viên, sử dụng làm nơi làm việc của giáo viên ngoài giờ dạy, trang bị đầy đủ các thiết bị theo quy định hiện hành. Trường đạt tiêu chuẩn mức độ 2 phải có bể bơi, nhà thi đấu đa năng, nhà ăn…

Ở cấp THCS, trường có quy mô tối thiểu 12 lớp, tối đa 45 lớp. Căn cứ điều kiện các địa phương, có thể bố trí các điểm trường ở những địa bàn khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường. Mỗi đơn vị hành chính cấp xã bố trí không quá 2 điểm trường, mỗi điểm trường không ít hơn 3 lớp. Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh và đặc điểm vùng miền với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh đối với khu vực đồng bằng, trung du; 6m2 cho một học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã và miền núi.

Đối với trường có tổ chức nội trú, diện tích khu đất cho các hạng mục công trình phục vụ nội trú bảo đảm 6m2 cho một học sinh nội trú. Tiêu chuẩn cơ sở vật chất tối thiểu (chỉ riêng khối phòng học tập) phải bảo đảm tối thiểu số lượng 0,6 phòng/lớp, được trang bị đầy đủ bàn, ghế học sinh đúng quy cách và đủ chỗ ngồi cho học sinh; bàn, ghế giáo viên, bảng lớp, hệ thống đèn và hệ thống quạt.

Phòng học bộ môn tin học có tối thiểu 1 phòng, phòng học bộ môn công nghệ có tối thiểu 1 phòng, phòng học bộ môn khoa học tự nhiên có tối thiểu 2 phòng; phòng giáo dục nghệ thuật có tối thiểu 1 phòng, phòng học ngoại ngữ: có tối thiểu 1 phòng.

Cấp THPT, trường có quy mô tối thiểu 15 lớp và tối đa 45 lớp. Diện tích khu đất xây dựng trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh và đặc điểm vùng miền với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh đối với khu vực đồng bằng, trung du; 6m2 cho một học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã và miền núi. Đối với trường có tổ chức nội trú, diện tích khu đất cho các hạng mục công trình phục vụ nội trú bảo đảm 6m2 cho một học sinh nội trú. Cấp học này, dự thảo thông tư quy định hàng chục hạng mục công trinh, phòng học khác…

Riêng trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông có nhiều cấp học có quy mô tối thiểu 9 lớp, tối đa 35 lớp. Căn cứ điều kiện các địa phương, có thể bố trí các điểm trường ở những địa bàn khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường. tối đa không quá 5 điểm trường cùng nhiều quy chuẩn khác.

Ngày 11.11.2019 là hạn chót để các địa phương, Sở GD-ĐT gửi ý kiến về Bộ GD-ĐT. Đối chiếu với các tiêu chuẩn trong bản dự thảo, hiện tại, hầu như không trường học nào đáp ứng được. Chưa kể một số quy định trong dự thảo không phù hợp với Nghị quyết 19 năm 2017 của Trung ương Đảng về tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp.

Tiêu chuẩn cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục quy định tại thông tư này được sử dụng làm căn cứ để:

-  Xác định tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm điều kiện thực hiện chương trình giáo dục.

- Xác định mức độ đạt chuẩn cơ sở vật chất để kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia các cơ sở giáo dục.

- Thực hiện rà soát, sắp xếp và phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục.

- Xác định tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng công trình sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo được quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP ngày 27.12.2017 của Chính phủ (áp dụng đối với các cơ sở giáo dục công lập).

VIỆT ĐÔNG