Pháp luật   Tư vấn pháp luật

Nhiều điểm mới, bảo vệ người tố cáo

Cập nhật ngày: 12/01/2019 - 21:08

BTN - Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 (Luật Tố cáo năm 2018) được Quốc hội thông qua ngày 12.6.2018, thay thế cho Luật Tố cáo số 03/2011/QH13, bao gồm 9 chương và 67 điều. So với Luật Tố cáo năm 2011, Luật đã tích hợp nhiều điểm mới, khắc phục được những hạn chế trong việc thực hiện quyền tố cáo cũng như công tác giải quyết tố cáo.

Tiếp tục kế thừa quy định về phạm vi điều chỉnh của luật cũ, theo đó, quy định phạm vi tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 2 loại hành vi, bao gồm hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực.

Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, Ðiều 9 Luật Tố cáo đã có những quy định cụ thể hoá một số quyền như được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân; tố cáo tiếp; đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ; rút tố cáo; được thông báo về việc thụ lý, kết luận nội dung tố cáo… đồng thời có nghĩa vụ cung cấp thông tin cá nhân, thông tin liên quan nội dung tố cáo, trình bày trung thực về nội dung tố cáo, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo.

Luật Tố cáo quy định người bị tố cáo có một số quyền như: được giải trình, đưa chứng cứ chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật; yêu cầu xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật, người giải quyết tố cáo trái pháp luật; được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo… đồng thời có nghĩa vụ giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý theo kết luận nội dung tố cáo; bồi thường thiệt hại, bồi hoàn do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.

Ðặc biệt, Ðiều 12 Luật Tố cáo năm 2018 đã có một sự bổ sung kịp thời về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với những đối tượng bị tố cáo mà Luật Tố cáo năm 2011 chưa quy định rõ như: cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức; cán bộ, công chức, viên chức đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức (về hưu, nghỉ việc); cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc giải thể. Ðây là những đối tượng mà theo thực tiễn là khó xử lý, nay đã được khắc phục triệt để.

Bên cạnh đó, Luật vẫn kế thừa nguyên tắc cũ trong xác định thẩm quyền giải quyết là tố cáo cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết; tố cáo người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết.

Về hình thức tố cáo, người tố cáo thực hiện việc tố cáo qua 2 dạng là tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp. Ðặc biệt, Luật quy định không xử lý đối với tố cáo nặc danh; tuy nhiên phải tiếp nhận, thanh tra, kiểm tra đối với tố cáo thuộc trường hợp nêu trên nhưng có nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh. Theo đó, để bảo đảm các cơ quan không bỏ qua thông tin tố cáo nặc danh, các văn bản hướng dẫn thi hành cần phải có những quy định cụ thể hơn về cơ chế chuyển đổi thông tin tố cáo nặc danh có cơ sở xác minh vào hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Về điều kiện thụ lý, Luật không quy định riêng trường hợp không thụ lý để tạo cơ sở đánh giá vụ việc tố cáo toàn diện hơn. Theo đó, đối với các đơn tố cáo đáp ứng các nội dung quy định Ðiều 29 Luật Tố cáo, sẽ được thụ lý giải quyết, bao gồm: Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Ðiều 23 (như đơn bảo đảm thông tin cá nhân người tố cáo hoặc người đại diện khi tố cáo đông người, ngày tháng năm tố cáo, có ký tên hoặc điểm chỉ); người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc phải có người đại diện theo quy định của pháp luật; đơn thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo; nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.

Ðặc biệt, căn cứ vào thực tiễn trong thời gian qua nhiều đơn tố cáo xuất phát từ việc khiếu nại không đạt được mục đích, Luật Tố cáo năm 2018 đã đưa quy định từ Thông tư số 07/2014/TT-TTCP để bổ sung vào Luật trường hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật.

Về trình tự giải quyết tố cáo, thay vì thực hiện 5 bước như quy định trước đây, Luật Tố cáo năm 2018 đã rút gọn còn 4 bước, bao gồm: thụ lý tố cáo, xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo, xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo. Ðiều 30 Luật Tố cáo 2018 cũng đã giới hạn thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày (so với luật cũ là 60 ngày), kể từ ngày thụ lý tố cáo.

Trường hợp vụ việc phức tạp có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày, đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Việc rút ngắn thời gian giải quyết so với Luật cũ sẽ tăng cường trách nhiệm của cơ quan thẩm quyền giải quyết tố cáo, giúp vụ việc tố cáo sớm được giải quyết, bảo đảm tính kịp thời.

Quyền rút tố cáo là một trong những bổ sung kịp thời trong Luật Tố cáo năm 2018. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản. Mặt khác, đối với trường hợp người tố cáo đã lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo, dù đã rút tố cáo vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định 2 trường hợp xử lý đình chỉ trong quá trình giải quyết tố cáo của người giải quyết tố cáo, bao gồm tạm đình chỉ và đình chỉ toàn bộ. Theo đó, người giải quyết tố cáo có quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan hoặc cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại hoặc đình chỉ giải quyết tố cáo khi người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo; người bị tố cáo đã chết và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến người bị tố cáo; vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Cuối cùng, nội dung có vị trí quan trọng nhất - bảo vệ người tố cáo, đã được kế thừa và quy định chi tiết hơn trong Luật Tố cáo 2018. Luật đã dành hẳn một chương từ Ðiều 47 đến Ðiều 58 quy định chi tiết về bảo vệ người tố cáo, định nghĩa rất rõ về đối tượng, phạm vi bảo vệ người tố cáo. Trong đó, đặc biệt chú ý quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền phải chủ động áp dụng biện pháp bảo vệ khi có căn cứ người tố cáo và người thân của họ đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại (Ðiều 47).

Luật cũng quy định quyền của người được bảo vệ (Ðiều 48); thẩm quyền và trách nhiệm áp dụng biện pháp bảo vệ (Ðiều 49); trình tự, thủ tục bảo vệ (Ðiều 50 đến Ðiều 55); Các biện pháp bảo vệ (Ðiều 56 đến Ðiều 58).

Như vậy, trách nhiệm bảo vệ danh tính, sức khoẻ, tinh thần, vị trí, công việc của người tố cáo đã được đặt lên hàng đầu, thể hiện quan điểm tôn trọng quyền tố cáo - quyền hiến định của công dân, một trong những công cụ giúp Nhà nước nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước.

Luật Tố cáo năm 2018 có hiệu lực từ ngày 1.1.2019.

Nguyễn Ð.Duy

(Thanh tra tỉnh)